Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

HỐT TẤT LIỆT KHÔNG NGU NHƯ BÒ



Huỳnh Ngọc Chênh
Ngoại sử Mông Cổ kể rằng sau khi đạp đổ Trung Hoa dưới vó ngựa chinh phạt của mình, Hốt Tất Liệt nghĩ ngay đến chủ trương “toàn súc” nên phán rằng: “Đất đai nơi nầy rộng lớn và tươi tốt, khí hậu ôn hòa nhưng dân Hán đông quá, sống chật hết đất. Nay ta lệnh giết hết dân Hán để lấy chỗ chăn nuôi súc vật”. Một trí thức Hán đang làm thông ngôn cho quân Mông Cổ nghe vậy hoảng hốt nghĩ thầm “Thằng rợ du mục nầy quả là ngu, ta phải khai hóa cái đầu bò tối tăm của hắn để cứu Hán tộc” rồi quỳ mọp xuống thưa: “Thưa đức Đại Đế anh minh, nuôi người Hán có lợi hơn nuôi súc vật”. Các tướng Mông Cổ tức giận quát nạt: “ Vô lý! Vô lý! Nuôi người Hán mà lợi hơn nuôi súc vật à? Người Hán chúng mày có làm ra sữa ra thịt như cừu, ngựa của chúng tao không?”

Hốt Tất Liệt phán: “Ngươi giải thích cho thông, không thì tao chém đầu”. Trí thức Hán thưa: “Dạ để cho người Hán sống không phải nuôi, cho chúng tự do làm ăn, của cải chúng làm ra bắt đóng thuế thì lợi gấp trăm lần nuôi súc vật”.
Hốt Tất Liệt là vị đại đế lãnh đạo hàng trăm vạn quân thảo phạt từ Tây sang Đông thì đầu óc không hề ngu muội tăm tối như tay trí thức Hán nghĩ. Ngay tức khắc, ông ngộ ra, liền dẹp bỏ chủ trương “toàn súc”, cho người Hán sống để thu thuế. Từ đó ông dựng nên triều đình nhà Nguyên giàu mạnh hùng cường.

Đảng ta sau khi chiếm trọn miền Nam, liền nghĩ đến chủ trương toàn trị, dành hết tất cả các quyền chính trị vào một mối: quyền lãnh đạo, quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, quyền ngôn luận.
Rồi cả cái quyền không dính líu gì đến chính trị là quyền dân sinh tức là quyền được tự do làm ăn, học hành, vui chơi và sinh hoạt của người dân, đảng cũng thu tóm.
Đảng lùa hết người dân vào tập thể để tất cả họ đều trở thành người làm công cho đảng. Của cải làm ra giao nộp hết cho đảng rồi đảng phát lại phiếu mua gạo, phiếu mua thực phẩm, phiếu mua áo quần…Rồi đảng lo trường học, lo chữa bệnh, lo chỗ vui chơi giải trí, kể cả cái nhỏ nhặt nhất của phụ nữ là cái băng vệ sinh đảng cũng dành lo.
Nhiều trí thức miền Nam, thậm chí nhiều cán bộ cao cấp của đảng thời đó góp ý phản đối chủ trương đó. Những người ấy ý kiến rằng phải để cho người dân tự do kinh doanh làm ăn, tự họ nuôi sống lấy họ rồi đảng thu thuế thì lợi hơn gấp bội lần đảng đứng ra nuôi họ để họ làm ăn theo chỉ đạo của đảng. Nhưng đảng muốn toàn trị tuyệt đối nên đảng vẫn kiên định lập trường.

Sau 10 năm như vậy, cả nước càng ngày càng tiến dần lên đói nghèo. Toàn dân thiếu ăn đến xanh xao hốc hác. Kẻ làm trong Nhà nước thì tìm cách quèo quẹt của công, ăn chận của dân. Người ở bên ngoài thì lén lút chạy chợ, buôn bán chụp giựt, lừa đảo kiếm sống. Nhân cách của người dân, bất kể thành phần, sa sút đến thậm tệ. Nhiều người không chịu nổi nữa phải liều mạng sống, tìm cách vượt biên tha phương cầu thực.
Nhưng đảng vẫn kiên định, một tấc không đi một li không dời, cương quyết không thay đổi lập trường cho đến khi nhìn lên thấy Trung Cộng rồi Liên Xô đổi mới, lúc đó đảng mới… sáng suốt đổi mới theo là trả cái quyền tự do dân sinh lại cho người dân.
Ngay sau đó bộ mặt đất nước, vẻ mặt người dân, tư cách con người thay đổi hẳn.

So với hai đồng chí vẫn kiên định lập trường là Cu Ba và Triều Tiên, Việt Nam cách xa một trời một vực.
Tuy nhiên so với thiên hạ chung quanh (không dám so với Nhật, Hàn, Đài Loan) Việt Nam vẫn còn cách xa một trời một vực theo hướng ngược lại. Ấy là do đảng vẫn còn giữ khư khư bốn quyền còn lại mặc cho sự kêu gào của người dân, mặc cho sự góp ý của các quốc gia tiên tiến đi trước.
Ngẫm nghĩ lại thấy rằng Hốt Tất Liệt, cách đây hơn 500 năm, dù từ nhỏ sống chung giữa bầy gia súc, lớn lên suốt đời ngồi trên lưng ngựa, chỉ lo đi chinh phạt cướp bóc khắp thế giới, không có chút khái niệm gì về kinh tế chính trị học nhưng không ngu chút nào. Đầu ông ta không phải là đầu bò.

Món quà nửa triệu đô cho thác Bản Giốc


ban gioc 1 Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương (Toronto, Canada) có ý định tặng Cao Bằng món quà nửa triệu đô để sửa sang chỉnh trang cảnh quan khu du lịch thác Bản Giốc, nhưng không được vì nghe nói nó vướng hiệp định “khai thác chung” đã ký kết giữa hai bên Việt- Trung.
          pham ngoc cuong Tại sao bên Trung Quốc thì sạch đẹp, khang trang mà phía Việt Nam lại nhếch nhác luộm thuộm? Đó là điều Phạm Ngọc Cương thắc mắc mãi trong chuyến về nước ghé thăm thác Bản Giốc vừa qua.
          Từ thực tế này, Cương nảy sinh ý tưởng: tại sao không sửa sang, chính trang làm sạch lại khu du lịch cảnh quan kỳ vĩ này?
          Sống ở Toronto, nhiều lần ngắm nhìn thác nước Niagara hùng vĩ vắt ngang Canada- Hoa Kỳ, giờ tận mắt chứng kiến cảnh nhem nhuốc của Bản Giốc anh không chịu nổi. Cái gì đó như là sự xấu hổ, có gì đó như khuôn diện quốc thể đang bị xem thường.
          Anh chủ động tìm gặp quan chức tỉnh Cao Bằng (nghe nói gặp được Phó Chủ tịch tỉnh) đề đạt nguyện vọng muốn tặng món quà nửa triệu đô (từ nguồn cá nhân và vận động bà con Việt kiều Canada) giúp tỉnh sửa sang chỉnh trang lại cảnh quan khu du lịch này. Những dãy lều bạt nhem nhuốc phải được thay bỏ, những chiếc cầu tre phải được làm lại, ngay cả những hàng quán, con đường cũng phải làm lại sạch sẽ và tươm tất hơn. Chưa xây dựng đồ sộ gì được thì ít nhất cũng phải làm cho cảnh quan thác Bản Giốc sạch đẹp. Sau này nếu cần thiết đầu tư cho những hạng mục lớn hơn, Cương sẽ lo vận động tìm nguồn tiếp.
          Nhưng món quà ấy đã không trao được. Nghe bảo không được chỉnh trang xây dựng gì do vướng nội dung hiệp định “khai thác chung” đã ký kết giữa hai bên Việt- Trung. Cương bảo anh nghe vị quan chức nọ kể rằng mỗi lần bên mình sửa soạn xây dựng cái gì là lập tức bên đó họ kéo sang phá!
          Không biết nội dung bản hiệp định ấy là gì, tại sao trên phần lãnh thổ mình lại không được (hoặc không dám) xây dựng, không dám… làm sạch? Tại sao mình không nhưng phía Trung Quốc lại được, một bên thì sạch đẹp khang trang, một bên thì nhếch nhác bẩn thỉu?
          Phạm Ngọc Cương vừa chào tôi để bay về lại Canada cách đây 2 tiếng. Giờ anh đang bay trên trời. Không biết lúc này Cương đang nghĩ gì, liệu có còn cảm giác trì nặng khi nghĩ về món quà nửa triệu đô không trao được cho Bản Giốc?
          Tôi hiểu tâm trạng của anh bởi đã từng ngao du gần 2 tháng trời khắp Canada, đất nước mà đến từng chỗ đi ỉa cũng ngăn nắp sạch đẹp thơm tho. Vậy mà ở tổ quốc mình, cái danh thắng “khuôn diện quốc thể” kia lại nhem nhuốc bẩn thỉu đến vậy, có muốn làm sạch cũng không dám?

ban gioc 2
ban gioc 3
Toàn cảnh thác Bản Giốc
ban gioc 4
ban gioc 5
          Những chiếc bè tre ọp ẹp, phía sau, bên kia bờ là những khu nhà nghỉ, khách sạn và dịch vụ đồ sộ sầm uất của Trung Quốc
ban gioc 6
ban gioc 7
Phần phía Việt Nam là những dãy lều quán nhếch nhác
toronto
          Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương (ngoài cùng bên phải) cùng nhà văn Hoàng Minh Tường và Trương Duy Nhất tại Toronto, Canada.

Chủ trương của đảng CSVN



BỐN CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Đại Nghĩa (danlambao) - Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đã và đang chịu nhiều bất hạnh, vừa thoát được ách nô lệ của Thực dân Pháp lại tròng vào cái chủ thuyết ngoại lai gây tác hại đến ngày hôm nay còn mang nặng.

Người cộng sản đã biết lợi dụng thời cơ và biết khai thác sự bất mãn của lớp quần chúng bị áp bức, kích động hận thù giai cấp vùng lên đấu tranh giành chính quyền.

Họ đã dùng bạo lực chuyên chính vô sản và chủ trương:

(1) Lấy gian dối làm phương châm,

(2) Lấy độc tài làm chính sách,

(3) Lấy khủng bố làm hành động,

(4) Lấy nhân dân làm công cụ.


1- Cộng sản lấy gian dối làm phương châm.

Chính bản thân ông HCM, người sáng lập đảng CSVN là người chủ trương lừa dối từ mọi mặt, ngay cả lý lịch của ông ta cũng là một huyền thoại cho đến ngày hôm nay chưa có ai biết rõ là ông được sinh ra ngày nào, chết ngày nào và đã có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con? Do đấy mà ông cựu đại tá QĐND Bùi Tín, nguyên Phó Tổng biên tập báo Quân Đội Nhân Dân, người từng tiếp xúc với ông Hồ đã có nhận định về ông ấy như sau: “Ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn là giả dối nhiều lắm”.


Chế độ cộng sản ngày nay đã tạo ra một xã hội dối lừa nên cố trung tướng QĐND Trần Độ đã bức xúc viết trong Hồi Ký Rồng-Rắn của mình như sau:


“Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò, bắt cả trẻ con phải đóng trò, bắt nhiều người gìa phải đóng trò. Đặc điểm này đã góp phần quyết định việc tạo ra và hình thành một xã hội dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn gỉa dối, giáo dục dối lừa, bằng cấp gỉa dối, đến gia đình cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hô lừa dối, hứa hẹn lừa dối. Ôi, cay dắng thay!” (Nhật ký Rồng-Rắn, trang 43)


Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhà trí thức yêu nước cũng đã phải lên tiếng buồn phiền khi trả lời đài LSR ở Nam California rằng:


“Rất đau lòng vì con người không dám sống thật với nhau, xã hội sống tha hóa, nói dối vì không ai dám nói thật, sống thật. Càng đau lòng hơn nữa là không ai sống có nhân cách cả, không ai được sống đàng hoàng đúng pháp luật”. (Việt Tide số 113 ngày 12-9-2003)


Nhà văn đại tá QĐND Nguyễn Khải người đã trọn đời hy sinh vì dân tộc, vì chủ nghĩa cộng sản, ngày nay ông đã nhận ra… và hối tiếc nên trong hồi ký “Đi tìm cái tôi đã mất” ông viết như sau:


“Cách trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo chí của đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả dùng từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy…Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, nói dối không biết xấu hổ, không biết run sợ. Người nói, nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng chỉ có nghe những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói”. (Đàn Chim Việt online ngày 9-12-2008)


Giáo sư Hoàng Tuỵ, một nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam cũng đã bức xúc trước sự gỉa dối của xã hội chủ nghĩa ngày nay đã làm cho dân tộc Việt Nam mang một nỗi nhục lớn, một nỗi nhục chưa bao giờ có.


“Sự giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục lớn trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc gỉa dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành gỉa dối. Thế nhưng đã có hơn một nhà khoa học ở nước ngoài nói thẳng với tôi rằng, điều thất vọng lớn nhất mà ông ta cảm thấy là sự gỉa dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội ở tầng nấc”. (Dân Trí online ngày 24-11-2008)

Giáo sư tiến sĩ Hà Văn Thịnh trả lời phỏng vấn của ĐCV nói về HCM, ông đã nhắc lại chuyện ông Trần Huy Liệu ngày xưa bịa ra anh hùng “Lê Văn Tám” là không có thật mà chính giáo sư sử học Phan Huy Lê cũng đã xác nhận là “chuyện bịa” nhưng đến ngày nay cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục “bịa” và chưa khai tử, do vậy nỗi khổ của người dạy sử ngày nay như thế nào, chúng ta hãy nghe giáo sư Thịnh tâm sự:


“Sự dối trá đó làm cho sinh viên không thích sử nữa. Thấy sử là bịp bợm, chán quá!

Tôi đã viết trên báo Lao Động năm 2005, “Lịch sử theo trang sách học trò”, tôi vạch rõ, dậy sử mà suốt ngày phải nói dối, điều đó đau lòng lắm. Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều trí thức ở hoàn cảnh nan giải, giữa nói thật và không nói thật”. (Đàn Chim Việt online ngày 19-5-2010)


Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà trí thức trẻ đã nhận thức được sự lừa dối của chế độ mà ông đang sống và ông đã nói lên nhận thức của mình trong bài “Sự lừa dối tiếp diễn” như sau:


“Căn bệnh nguỵ biện, lừa mỵ, đạo đức gỉa vẫn luôn tồn tại và tinh vi hơn, bởi một lẽ đơn giản: quyền lãnh đạo đất nước và quản trị quốc gia vẫn bị người cộng sản độc chiếm và như vậy vòng xoán bệnh lý, sự dối lừa vẫn tiếp diễn. Sự dối lừa đã tiếp diễn 61 năm qua. 61 năm dối lừa của chính quyền cộng sản Việt Nam tính tới nay ngày 2-9-2006”. (TudodanchuVietNam online ngày 25-9-2006)

2- Cộng sản lấy độc tài làm chính sách.

Đi kèm với chủ trương dối lừa, người cộng sản áp dụng chính sách độc tài để dùng bạo lực chuyên chính vô sản hầu lãnh đạo và giữ quyền thống trị. Sau bao nhiêu năm đứng trong hàng ngủ đảng cộng sản cựu đại tá QDND Phạm Quế Dương đã trả lại thẻ đảng sau khi tướng Trần Độ bị khai trừ và trong lần hội luận với ông Trần Ngọc Thành ở Warsaw do Pv Việt Hùng đài RFA điều hợp ông đã mạnh dạn phát biểu:


“Một cơ chế độc quyền, độc tài, độc trị, độc đoán do đó không có một lực lượng đối lập, không có lực lượng đối trọng để mà kiểm soát lẫn nhau, đó là điểm thứ nhất, điểm thứ hai là không có tự do báo chí, tự do ngôn luận cho nên báo chí tại Việt Nam không thể đưa ra một cách đàng hoàng công khai được, đó là điểm thứ hai, điểm thứ ba là về bầu cử quốc hội là đảng cử dân bầu do đó không có những lực lượng đối lập đàng hoàng tại nghị viện được, do đó dân chúng người ta nói: đảng chỉ tay – chính phủ ra tay - Mặt trận Tổ quốc thì vỗ tay - Quốc hội thì giơ tay – Nhân dân thì trắng tay”. (RFA online ngày 13-14-15/10/2007)


Luật sư Trần Lâm, nguyên thẩm phán tòa án tối cao hội luận với Luật sư Trần Thanh Hiệp ở Pháp do đài RFA điều hợp, ông cũng đã thành thật phủ nhận luận điệu cộng sản thường rêu rao là “CNXH dân chủ gấp một triệu lần CNTB”, ông nói:


“ Người dân chưa hề được hưởng dân chủ. Mà bây giờ thì lại bị một điều là hiện nay một đảng cầm quyền, một đảng quyết định, thì tức là độc tài. Thế thì bây giờ ta mang dân chủ của Âu châu, của châu Mỹ vào cái dân chủ lạc hậu của Việt nam kèm theo cái đảng trị như thế thì thật là một trời một vực. Hôm nay ở Việt Nam quyền hành pháp, tư pháp, lập pháp thì bị tập trung trong tay một đảng thôi”. (RFA online ngày 5-6-7/10/2007)


Cựu trung tướng Trần Quốc Bảo, em chú bác với cố chủ tịch nước Trường Chinh trong lần trò chuyện với hai đại tá Tạ Cao Sơn và Quách Hải Lượng thì ông đã thẳng thắn mà nói rằng:


“Ta độc tài cộng sản. Sai lầm lớn nhất là ta dùng chuyên chính vô sản (thu cái độc tài cho một đảng, một nhóm người trong đảng nhân danh là cộng sản rồi cuối cùng là độc tài của một cá nhân).


“Độc tài của cộng sản ghê gớm lắm, thâu tóm quyền lực, lừa bịp nhân dân, biến người dân thành nô lệ. Vấn đề này ta cứ nhìn toàn cục và cái nhìn xuyên thế kỉ rất rõ. Khi đã có quyền lực trong tay ắt dẫn đến độc tài”. (Đàn Chim Việt online ngày 3-9-2009)


Sau bao nhiêu năm thống trị trên đất nước Việt Nam, chính quyền cộng sản đã gây ra sự hình thành của một phong trào đấu tranh được gọi là Khối 8406, trong bản Tuyên ngôn của phong trào này có vấn đề mà kỹ sư Đỗ Nam Hải người đại diện đã trả lời phỏng vấn của Đài Sài Gòn Network, ông nói:


“Chỉ rõ được nguyên nhân sâu xa của thực trạng đó là do Việt Nam không có dân chủ. Cụ thể là chế độ cộng sản độc tài toàn trị, phản khoa học, phản dân tộc đã và vẫn đang đè đầu cưỡi cổ lên nhân dân Việt nam. Mục tiêu ban đầu của cuộc Cách mạng tháng 8-1945 là Độc lập dân tộc đã bị ông Hồ Chí Minh và các đồng chí cộng sản của ông ta đánh tráo một cách rất thiếu tử tế thành mục tiêu Chủ nghĩa xã hội”. (Dân Làm Báo online ngày 1-12-2011)

3- Cộng sản lấy khủng bố làm hành động.


Để thực hiện đường lối cai trị độc đoán của mình, người cộng sản đã áp dụng chiến thuật khủng bố nhân dân, khủng bố những nhà đấu tranh yêu nước bằng mọi thủ đoạn, mọi phương cách, mọi phương tiện dù là bần tiện.


Mục sư Nguyễn Công Chính (nay đang bị giam), trước đây ông trả lời Pv Việt Hùng đài RFA về lần ông bị bắt vào đồn công an bị khủng bố ra sao:


“Đến 12 giờ trưa thì ông Nguyễn Hữu Chẫn và bà Võ Thanh Hiền (thiếu tá công an) kêu 4 người xã hội đen vô, rồi dử dằn lắm, ra lệnh “lột truồng” tôi và những người xã hội đen này bóp vô “chỗ kín” của tôi…Lúc đó tôi la lên, tôi nói sao các anh bóp vô “chỗ kín” của tôi thì họ cười cợt, tỏ vẻ thích thú”. (RFA online ngày 28-9-2006)


Ông Vi Đức Hồi, một người sắc tộc thiểu số đã từng tham gia đảng cộng sản trong thời kháng chiến, nay ông cũng đã thấy được cái sai lầm của đảng CSVN nên ông lại là người tích cực đấu tranh cho cái thiện chống lại cái ác và ông cũng đã nhận lảnh một số phận nghiệt ngã như những nhà đấu tranh khác, hiện ông đang ngồi trong tù của cái đảng mà ông đã từng hết lòng phục vụ.


“Ông Vi Đức Hồi một nhà đấu tranh dân chủ, cư ngụ thị xã Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, bị lôi ra đấu tố ở địa phương và có dấu hiệu sắp bị chế độ Hà Nội bỏ tù…Từ đó đến nay ông bị mất chức và bị khủng bố, liên tục dưới nhiều hình thức. Cuối tháng 10 năm ngoái, một số người hoạt động dân chủ ở Hà Nội đến Hữu Lũng thăm ông nên bị một lực lượng đông đảo công an CSVN và đầu gấu đánh hội chợ ngay ở nhà ông. Ông Nguyễn Phương Anh bị đánh thương tích đầy người. Không run sợ trước áp lực và khủng bố của hệ thống công an CSVN, ông vẫn tham gia các cuộc vận động dân chủ hóa Việt Nam”. (Người Việt ngày 13-6-2008)


Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, người cũng đã nhiều lần bị chính quyền cộng sản khủng bố bằng những thủ đoạn dù hèn hạ khiến có lúc quẩn trí ông đã dọa sẽ tự thiêu nếu cộng sản đưa ông tới mức đường cùn.


“Đã một lần bị bỏ tù (1999), gần chục lần bị lục soát khám xét nhà cửa tanh bành và bắt đi thẩm vấn. Ngắn là vài buổi, dài là mươi ngày. Rồi bị đem ra phường đấu tố, rồi bị người ta thuê côn đồ mang danh thương binh xông vào nhà chửi bới và đe dọa hành hung…


“Vậy mà họ vẫn nhục mạ, vẫn đoạ đày, khủng bố tinh thần tôi đằng đẵng”. (Nguyenthanhgiang online ngày 4-2-2010)


Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà đấu tranh trẻ cũng đã từng vào tù ra khám, từng bị “mời tới, mời lui”, nhiều lần bị chánh quyền dùng bọn đầu gấu mạo danh cựu chiến binh để khủng bố.


“Tôi không phải là người đầu tiên và duy nhất bị khủng bố tinh thần bằng lực lượng “cựu chiến binh” đến tận nhà. Tôi chỉ là người tiếp bước và tiếp tục phải chịu đựng một phần những gì mà những vị đấu tranh tiền bối cho cái đúng, cái thiện phải trải qua. Những vị đó trước đây còn ở trong những bối cảnh khắc nghiệt và ghê rợn hơn nhiều ngày nay”. (RFA online ngày 28-9-2006)


Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Quốc hội xem xét và soạn thảo luật biểu tình thì có một số người vì tin tưởng và hy vọng nên đã tổ chức biểu tình ủng hộ, nhưng rồi tất cả đã bị bắt đưa vào trung tâm phục hồi nhân phẩm…và phóng viên Mặc Lâm chua chát viết bài “ Khi niềm tin bị khủng bố”, ông viết:


“Trong khi hai chữ “biểu tình” vẫn được bàn luận trên mặt báo cả nước thì đâu đó người dân có quan tâm tới vấn đề này đã nảy sinh câu hỏi mới: “Tại sao lại khủng bố niềm tin của người dân như thế?” (Dân Làm Báo online ngày 30-11-2011)


Gần đây nhất, ồn ào nhất là việc nhà cầm quyền tỉnh Quảng Nam đã hai lần bố ráp nhà của ông Huỳnh Ngọc Tuấn, đánh đập cháu Huỳnh Thục Vy; trả lời phóng viên Thanh Quang đài RFA, Vy kể như sau:


“Lúc chiều khoảng 3 giờ khoảng 100 công an, 50 công an tràn vào nhà, 50 công an chốt tất cả các ngã đường giống như là lần trước vào ngày 8 tháng 11, thì con mới lấy máy ảnh ra định quay phim chụp hình để làm bằng chứng cho sự khủng bố của họ, nhưng con vừa mới rút máy quay phim ra thì hai công an nữ đã vật tay con ra phía sau, rồi hai công an nam chạy vô lấy máy ảnh của con mà rồi còn đánh con nữa, đánh vào tay vào chân con nữa…


“Người ta ập vào nhà như vậy thì mục tiêu thứ nhất là khủng bố tinh thần gia đình con, làm cho gia đình con bấn loạn hết cả, rồi người ta vào người ta đánh đập mình, người ta lợi dụng tình thế khẩn cấp người ta cướp hết tiền bạc của mình nữa”. (RFA online ngày 02-12-2011)

4- Cộng sản lấy nhân dân làm công cụ.

Đảng cộng sản mệnh danh là đảng của giai cấp công-nông, cộng sản lợi dụng sự câm thù của giai cấp bị bốc lột để khai thác sự tham gia của họ trong ý đồ gây sức mạnh để dùng bạo lực giành chánh quyền.


Giáo sư Lữ Phương, nguyên thứ trưởng Văn hóa của Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam đã nhìn thấy được cái dụng ý của người cộng sản nên vạch rõ:


“Quốc hội nằm trong hệ thống chuyên chính vô sản, là công cụ của đảng mà thôi. Nhà nước là công cụ, quốc hội là công cụ, các đoàn thể quần chúng, báo chí cũng là công cụ, nằm dưới sự chỉ đạo chuyên chính của đảng”. (Việt Tide số 31 ngày 15-2-2002)


Luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Tp Sài Gòn trong lần trả lời phỏng vấn của Mặc Lâm, đài RFA ông nói rõ âm mưu của nhà cầm quyền Hà Nội đã xử dụng người dân làm công cụ đàn áp tôn giáo như vụ chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng trước đây, nay lại tiếp tục áp dụng chiêu bài “nhân dân tự phát” để đàn áp tín đồ Công giáo ở Thái Hà. Chính nhà cầm quyền âm mưu gây chia rẽ trong giáo dân và quần chúng, ngón đòn sử dựng “công cụ”này quả là thâm độc và hèn hạ, ông Đằng phát biểu:


“Nếu quả thật quần chúng tự phát nhưng vào nhà thờ để mà làm như vậy thì trách nhiệm của nhà nước là phải dẹp chứ không thể để người ta làm như vậy được…


“Bởi vì nếu xảy ra đụng độ giũa giáo dân và số người tự phát đó thì tình hình sẽ phức tạp hơn. Tôi cho trong việc này đã tạo ra một số hoài nghi trong quần chúng là nhà nước dàn dựng. Việc này tôi thấy không nên nó làm cho uy tín của chính quyền Hà Nội sẽ bị giảm sút”. (RFA online ngày 9-11-2011)


Nghe theo lời kêu gọi của đảng CSVN nhân dân đã hy sinh đóng góp sức người và của theo yêu cầu và mong có ngày được đổi đời nên họ sẳn sàng làm công cụ để đảng cộng sản sử dụng trong chiến tranh cũng như lúc hòa bình. Nhân dân là một khối tài nguyên vô tận, do vậy mà ông HCM đã ra sức vơ vét cho cạn kiệt với câu châm ngôn:


“Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong”.


Đảng Cộng sản biết khai thác lòng yêu nước của dân tộc trong thời nô lệ để làm nên cuộc chiến tranh giải phóng, nhưng thực chất trong đó là cuộc đấu tranh giai cấp theo chủ thuyết Mác-Lê mà người cộng sản đã đánh tráo mục đích đích thực của họ. Họ đã lập ra những tổ chức mượn danh nhân dân như: Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân…nhưng Ngân hàng Nhà nước?

Ở các tổ chức này họ vẽ ra những câu châm ngôn cực kỳ phản động như:


- Quân đội trung với đảng, hiếu với dân; tại sao Quân đội Nhân dân phải trung với đảng mà không phải là trung với Nhân dân, với Tổ quốc?


- Công an chỉ biết còn đảng còn mình; tại sao Công an Nhân dân chỉ biết có đảng mà không biết đến Nhân dân, biết đến Tổ quốc?


- Đâu cần Thanh niên có, đâu khó có Thanh niên; trong nhân dân, thành phần Thanh niên là nòng cốt, họ ra sức giáo dục thanh niên chỉ biết nhớ ơn bác, nhớ ơn đảng mà không nói gì đến công cha mẹ sinh thành.


Trong thời chiến họ đã xua hàng triệu thanh niên đi làm dân công vác đạn ra tiền tuyến, họ đã từng thí mạng thanh niên vào các trận đánh biển người sanh tử, họ đã từng xua thanh niên xung phong làm lao động khổ sai phá rừng, xẻ núi làm đường mòn Hồ Chí Minh, họ đã từng xua thanh niên nghĩa vụ lao động đi khai phá mở các vùng kinh tế mới nơi rừng sâu nước độc…


Cộng hòa XHCN Việt Nam được xem là một đất nước có nhiều nghịch lý được tuyên truyền bằng những sáo ngữ dối lừa. Có đất nước nào trên thế giới này người chủ thì sống một cuộc đời nghèo mạt dưới những túp lều tranh xiêu vẹo, làm việc quần quật không đủ ăn, không đủ tiền đóng học phí cho con…, ngược lại những tên đầy tớ thì sống trong nhà cao cửa rộng ngấc ngưỡng, đi ra thì có xe nhỏ xe to chở vợ, chở con…ôi thôi biết bao giờ mới hết nghịch lý ấy?


Cái nghịch lý: “Nhân dân làm chủ”, “Cán bộ là đầy tớ của dân”(?)


Tôi rất đau lòng khi xem được bài “Bát phở bạc triệu và bữa cơm kèm berberin” của Đào Tuấn và nghĩ về số phận của người dân thời XHCNVN:


“Năm 2009 những điều tra của báo chí về những bữa ăn “mạ vàng” ở Thủ đô làm dư luận sốc nặng. Một bát súp khai vị giá 98 USD. Tại các “phòng vàng”, hóa đơn thanh toán không thể dưới 1.000 USD. Thậm chí, xa xỉ đến mức một chai rượu mở nắp cũng phải trả 713 ngàn đồng…


“Đến năm 2011, bát phở bò Kobe đã tăng thêm 100 ngàn đồng để đạt mức 1,2 triệu đồng. Có nghĩa một bữa sáng của người giàu bằng thu nhập 3 tháng của gia đình nghèo. Trong khi ở một trường “nội trú dân nuôi” nào đó, nhà báo Trần Đăng Tuấn, TGĐ AVG miêu tả: “Một nồi cơm và một nồi canh rau cải”, không một miếng thịt, dù bạc nhạc, thậm chí không có một miếng “tóp mỡ”-thứ “thịt” thời bao cấp-là bữa trưa của 80 mầm non đất nước…


“Một ví dụ là những câu chuyện xã hội hàng ngày chứa đầy những nghịch cảnh: Cơm công nhân ăn kèm Berberin- một loại thuốc đi ngoài. Và dù “lương bộ trưởng 40 năm mới mua nổi nhà thu nhập thấp”thì chỉ sau một nhiệm kỳ 4 năm, có quan chức đã xây được biệt thự”. (Dân Làm Báo online ngày 30-11-2011)

Ôi mĩa mai thay!

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân chỉ là công cụ”.

Đại Nghĩa (sưu tầm)
danlambaovn.blogspot.com

Tướng cướp lãng mạn Điền Khắc Kim và Tướng cướp nhà văn Sơn Vương


Tên cướp khét tiếng Điền Khắc Kim

1* Mở bài

Có một dạo, báo chí Sài Gòn liên tục loan tin về những vụ cướp của, hiếp dâm một cách táo bạo của một tên cướp trẻ, hắn để lại tên là Điền Khắc Kim.
Điền Khắc Kim làm xôn xao dư luận, được gán cho cái tên là tướng cướp “lãng mạn”.
Nói về ăn cướp, thì từ xưa tới nay, xã hội nào cũng có quân ăn cướp cả. Sơn tặc, hải tặc, đạo tặc, không tặc, lâm tặc, địa tặc và thời gian gần đây lại có tin tặc (hacker) và đinh tặc.
Sơn tặc, hải tặc có phạm vi hoạt động ở một vùng núi, một vùng biển như Vịnh Thái Lan, bờ biển Somalia.
Nhưng địa tặc thì có “địa bàn” ăn cướp trên toàn cõi Việt Nam. Đó là cán bộ Việt Cộng cướp đất của nông dân, tạo ra một tầng lớp “dân oan” trên cả nước.
“Đinh tặc” tuy không trực tiếp cướp tài sản của những người đi xe gắn máy trên xa lộ, nhưng đó là kết quả của một nền giáo dục và văn hoá của chế độ ưu việt CSVN.
Những tên cướp nổi tiếng như: Từ Hải của Tàu, Jesse James, John H. Dillinger của Mỹ hay tên cướp nghĩa hiệp như Robin Hood của Anh quốc…
Còn ở Việt Nam thì có Sơn Vương, Điền Khắc Kim, Bạch Hải Đường (VN), và trong giới giang hồ thì có Đại Cathay, Năm Cam…

2* Tên cướp “lãng mạn” Điền Khắc Kim

Năm 1969, báo chí tường thuật, một tên cướp đột nhập vào nhà của một ngoại kiều ở Cư Xá Đô Thành, Sài Gòn. Bắt trói một phụ nữ, hắn lục lọi khắp nơi, lấy tiền mặt, vàng bạc và nữ trang. Sau đó, hắn tiến đến nạn nhân, thể hiện ý đồ hãm hiếp. Khi thấy người phụ nữ nước mắt đầm đìa, kinh hoàng đến nổi không nói ra lời, bổng nhiên, hắn dừng lại rồi thản nhiên bước ra cửa chính.
Có lẻ cảm kích về hành động “buông tha” của tên cướp, nạn nhân buộc miệng hỏi, “anh tên gì?” Điều ngạc nhiên là tên cướp bình thản trả lời: “Tôi chỉ chọn những bà đầm vợ Mỹ, còn người Việt thì…”. Sau đó, hắn đáp gọn lỏn: “Điền Khắc Kim”.
Báo chí tường thuật vụ cướp có phần “lãng mạn” nầy, và dự đoán, có lẽ tên cướp có ý trả thù ngoại bang, và để lại cái tên Điền Khắc Kim.
Chính Điền Khắc Kim (ĐKK) là thủ phạm của nhiều vụ cướp của, cướp tình trước đây.
Sau khi cướp của, hắn thản nhiên hãm hiếp nạn nhân, rồi mở tủ lạnh lấy nước ra uống, lấy trái cây ra ăn trước khi rút lui bằng cửa chính.
Các nạn nhân mô tả hình dáng là một thanh niên nhỏ con, cao khoảng 1.6m, ăn mặc bảnh bao, tóc dài, ở tuổi khoảng 25, 27.
Hành tung bất định, vì hắn cô độc, độc lai độc vảng, không có đồng đảng, đồng bọn, cho nên cơ quan an ninh nhức đầu trong việc truy tìm hắn.
2.1. Vì sao Điền Khắc Kim hãm hiếp nạn nhân vợ ngoại kiều?
Việc “cướp tình” sau khi cướp của là một hành động để trả thù cho mối tình đầu, là “người yêu đơn phương trong mộng”.
Mối tình đơn phương với cô hàng xóm lớn hơn hắn 5,7 tuổi gì đó. Cô gái tên gì hắn cũng không biết, vì ở cái xóm nghèo khu Chuồng Bò, Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, người ta kêu con cái bằng những cái tên “bé ba, bé tư...
Cô gái nhà nghèo đi bán ba và bán dâm cho lính Mỹ. Khi hay tin người yêu trong mộng của hắn, vì tiếp khách “quá tải”, chịu không nổi 4, 5 con người khổng lồ vạm vỡ, nên đã kiệt sức chết vì “tai nạn nghề nghiệp”. Từ đó, ĐKK căm giận và quyết trả thù lại các bà vợ ngoại kiều, lính Mỹ.
2.3. Điền Khắc Kim là ai?
Trong hồ sơ cảnh sát thì ghi hắn tên Điềm Khắc Kim, chớ không phải Điền Khắc Kim, nhưng báo chí đã quen với cái tên Điền Khắc Kim, hơn nữa, đó cũng ví như một biệt hiệu mà thôi.
ĐKK tên thật là Kha Lon Theo, sinh năm 1947, cư ngụ tại khu Chuồng Bò, Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.
Là anh của một gia đình 12 đứa con. Cha là người Campuchia tên Kha Lon Riêm. Mẹ Việt tên Lê Thị Đeo.
Kha Lon Theo là đứa con ngỗ nghịch, kết bè đảng với bọn trẻ lưu manh, trộm cướp, nên bị cha từ bỏ, xoá tên trong tờ khai gia đình.
Kha Lon Theo bỏ nhà đi bụi đời, lang thang đầu đường xó chợ, sống bằng “nghề” chôm chỉa, thậm chí còn dắt gái cho khách mua hoa ở Ngã Ba Chú Ía lúc 12 tuổi. 13 tuổi, bị đưa vào trại Giáo Hóa Thủ Đức về tội trộm cắp.
Kha Lon Theo bị gia đình và xã hội ruồng bỏ, nên cố làm ra vẻ quý phái, ăn mặc bảnh bao, lấy cái tên quý tộc là Điền Khắc Kim.
Vào tù ra khám nhiều lần về những tội ăn cắp, ăn trộm vặt, ĐKK muốn trở thành giàu có và nổi danh là một tướng cướp.
Hắn quyết tâm tầm sư học đạo. Sư phụ là Sơn Đầu Bự ở Khánh Hội, tay trộm khét tiếng một thời., ông đã truyền nghề và những kinh nghiệm đào tường, khóet vách cho đệ tử ĐKK.
2.4. Vụ cướp táo bạo
Báo Trắng Đen tường thuật.
Đêm 12-10-1971. Đường Công Lý vắng tanh. Một bóng đen lầm lũi tiến đến gần gốc cây cổ thụ bên hông toà biệt thự. Nhanh như con sóc, bóng đen đu mình trên hàng rào và biến nhanh vào bên trong căn nhà, đến tận phòng ngủ. Chủ nhà là bà Frederic J. Ca., Phó Giám đốc Hội Cha Mẹ Nuôi Quốc Tế.
Bà Mỹ nói rành tiếng Việt. Tuy hoảng hốt trước họng súng, nhưng bà còn bình tĩnh hỏi: “Anh là ai? Tại sao dám vào nhà tôi trong đêm khuya như thế nầy?
Tên cướp trả lời: “Tiền, vàng cất dấu ở đâu, lấy ra ngay, nói nhiều tao bắn nát óc!”. Bà Phó Giám đốc vẫn bình tĩnh: “Anh biết tôi là ai không, anh làm như thế không tốt đâu!”.
Tên cướp lao tới, tát cho bà một cú như trời giáng. Hắn lấy dây nylon mang theo, trói chặt tay nạn nhân. Hắn lục lọi, lấy một số tiền mặt, nữ trang, hột xoàn trị giá hàng triệu đồng.
Trên đường tẩu thoát, hắn bắt cóc con tin, đưa vào khách sạn, giở trò tồi bại đến tận hôm sau mới cho về nhà. (Báo Trắng Đen tháng 10 năm 1971)

Tháp canh Khám Chí Hòa
2.5. Bị bắn hạ trong cuộc đấu súng nhưng lại thoát thân Cuộc truy lùng tiến hành, thiên la địa võng giăng ra. Tin tức cho biết, hắn đang tá túc tại nhà vợ tại hẻm 122 đường Tôn Đản, Khánh Hội.
Vòng vây siết chặt. Sau cuộc đấu súng, ĐKK nhảy xuống rạch, lội qua Bến Vân Đồng tẩu thoát với vết thương khá nặng nơi bụng.
Bị mất máu nhiều, ĐKK âm thầm vào bịnh viện Sài Gòn, đường Lê Lợi xin điều trị, với cái tên là Lê Văn Minh. ĐKK bị phát hiện và bị bắt ngay tại giường bịnh.
Nhân viên an ninh được tăng cường, canh gác vòng ngoài, vòng trong 24/24.
Nhìn dáng yếu ớt, xanh xao, tay bị còng của y, không ai ngờ rằng hắn có thể thoát ra được. Vậy mà, đêm 25 rạng 26-10-1971, ĐKK đã thoát ra khỏi bịnh viện với chiếc còng trong tay.
Hai tháng sau, khoảng 10 giờ tối ngày 26-12-1971, ĐKK lại đột nhập vào nhà một Mỹ kiều ở đường Ngô Tùng Châu. Vẫn bài bản cũ, lấy tiền và nữ trang, rồi hãm hiếp gia chủ.
Lần nầy ĐKK bị phát hiện, vì sự theo dõi chặt chẽ từ nhà vợ ở Khánh Hội. ĐKK bị bắn hạ bởi một vết đạn trên đầu. Tội phạm được nhanh chóng đưa vào bịnh viện cứu chữa.
Trong người y, cảnh sát tịch thu 3 súng lục, 8 gấp đạn và 4 quả lựu đạn.
Chính vết thương trên bụng chứng tỏ hắn là thủ phạm vụ cướp và hãm hiếp bà Phó Giám đốc Hội Cha Mẹ Nuôi QT.

Mô hình “lò bát quái” Chí Hòa
2.6. Đào thoát khỏi Lò Bát Quái Bị vết thương trên đầu, ĐKK được đưa vào bịnh xá khám Chí Hoà cứu chữa. Khám Chí Hòa còn được gọi là Lò Bát Quái, vì nó hình bát giác, có 8 cạnh đều nhau, đặc biệt là được giới giang hồ, tù nhân cho rằng cái huyền bí của nó là Bát Quái Trận Đồ vô cùng lợi hại.
Khoảng 4 tháng sau, vết thương ở đầu đã lành, nhưng vết thương ở bụng vẫn còn hành hạ, vì ruột bị đứt 3 khúc, được nối lại bằng ống cao su.
Người của ĐKK gầy còm, xanh xao, yếu đuối. Đáng lẽ phải bị đưa tới phòng biệt giam, nhưng cho ở lại khu nhà bếp làm công việc nhẹ. Khu nhà bếp gồm những tù nhân sắp mãn hạn, chờ ngày ra khám, cho nên mọi sinh hoạt có phần tự do hơn.
Điền Khắc Kim lập kế hoạch vượt ngục. Với cái tên ĐKK, nên được các tù nhân nể nang.
Theo kế hoạch, đêm 23-4-1972, hơn 200 tù nhân thuộc khu ẩm thực được xem chiếu phim định kỳ. Họ nổi loạn theo kế hoạch. Tiếng la hét, xô đẩy, đập phá, tiếng còi báo động và cả tiếng súng nổ đã gây náo loạn cả một khu vực.
Thừa cơ hội, ĐKK lẽn ra sân, chui dưới gầm xe Jeep của Trung tá Giám đốc và bám vào khung xe, ra khỏi nhà giam một cách an toàn. Cuộc bạo loạn bị dẹp tắt, nhưng mất ĐKK.
Thiên la địa võng của màng lưới an ninh bủa giăng khắp nơi, từ những nơi mà ĐKK có thể lui tới, như nhà vợ ở Khánh Hội, khu Chuồng Bò Gò Vấp, công viên Gia Định…đã lần ra đầu mối, và ĐKK bị còng tay sau một trận đấu súng nghẹt thở.
Điền Khắc Kim thú nhận tội lỗi, bị kết án 20 năm tù, đày đi Côn Đảo về những tội: cướp có vũ khí, uy hiếp lấy tiền, hiếp dâm gia chủ, xâm phạm tiết hạnh…Bị đày Côn Đảo tháng 3 năm 1973.
Sau năm 1975, ĐKK bị đưa về trại tù Tống Lê Chân, rồi trại đồn điền cao su Dầu Tiếng. ĐKK lại trốn trại. Hồ sơ công an cho biết, ĐKK đã gây ra 6 vụ cướp sau đó.
Khám Chí Hòa
Ngày 25-9-1985, trong vụ cướp tại cầu chữ Y, vì súng bị kẹt đạn, nên ĐKK bị bắt đưa vào Chí Hoà và chết ở đó ngày 27-11-1986, bỏ lại 2 vợ và 7 con.
Tù nhân kể rằng, Lò Bát Quái, cho dù có ra được, thì cuối cùng cũng phải trở vào, vì không thể thoát ra cửa Tử.
2.7. Lò Bát Quái
Thiết kế và xây dựng khám Chí Hoà do một kiến trúc sư Nhật Bản, khởi công năm 1943, nhưng bị đình chỉ trong thời gian Nhật đảo chánh Tây. Tiếp tục xây vào 1950. Toàn bộ vật liệu được chở từ Pháp qua.
Trên tầng trệt có 3 tầng lầu. Tầng trệt là nơi làm việc của giám thị và các văn phòng hành chánh. Cũng có 2 khu dành cho nữ tù ở tầng trệt. Lầu một giam tù chính trị. Lầu 2 và 3 giam thường phạm. Sức chứa 8,000 nhưng cũng có lúc cũng tới 10,000 tù nhân.
Khu kiến trúc hình bát giác, 8 cạnh đều nhau. Chính giữa có một tháp cao 20m, trên đó có bồn nước và trạm gác, lính canh có thể quan sát toàn bộ khu nhà giam.
Truyền thuyết cho rằng một trận đồ Bát Quái rất lợi hại, cho dù những tù nhân có những thủ đoạn, quỷ quyệt cũng bị phá giải trong âm mưu vượt ngục.
Cho rằng:
Gương bát quái
Bát Quái lấy theo phương vị trong kinh Dịch là: Càn (trời), Khảm (nước), Cấn (núi), Chấn (sấm), Tốn (gió), Ly (lửa), Khôn (đất), Đoài (đầm) Bát Quái vận hành theo Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ, trên nguyên tắc tương sinh, tương khắc, khống chế nhau để tồn tại và phát triển.
Bát Quái đồ của Khổng Minh là một trận địa phục kích, được dàn binh, bố trận ở 8 phương vị, ở mỗi nơi do một “binh chủng” trấn giữ, như đạo quân bắn tên, đạo quân xử dụng hỏa công, kỵ binh, “đặc công”…Có 8 cửa. Khi vào mê trận, thì chỉ có một cửa ra là cửa Tử, còn lại là bại tướng và tàn binh.
Bát Quái trận cũng có thể xem như trận đồ trên Đào Hoa đảo của Đông Tà Hoàng Dược Sư, đã giam cầm Lão Ngoan Đồng cả chục năm trên đó.
Tru Tiên Kiếm chụp cận ảnh
Cũng có lời đồn đãi, Bát Quái trận đồ đã trấn ếm những linh hồn người chết, không cho siêu thoát, nên âm khí và oán khí nặng nề. Vong hồn những người tự tử, bịnh chết, bị xử bắn trong Chí Hoà như Nguyễn Văn Trỗi thì muôn đời không siêu thoát. Dị nghị càng gây xôn xao, là năm nào Chí Hoà cũng bị sét đánh cả, nặng nhất là những năm 1956, 1964, 1965. Cũng có người nêu giả thuyết là ở dưới khám Chí Hoà có một hầm mỏ.
Rồi thì có nhiều chuyện ma được nói tới, có lần báo chí đăng một loạt bài về sự tích và những vụ chọc phá của con Ma Vú Dài trong Chí Hoà.
2.8. Cuộc vượt ngục thành công duy nhất trong lịch sử khám Chí Hoà
Đó là vào năm 1995, tử tội Nguyễn Hữu Thành, sinh năm 1971 ở Bình Dương. Thành có biệt danh là “Phước 8 ngón” (mất 2 ngón tay), đã cưa còng, khoét vách tường nhà vệ sinh, dùng vải quần áo làm sợi dây tuột xuống… dây đứt, té bất tỉnh. Sau đó, đến sân nhà tù, may mắn lấy được bộ quần áo công an đang phơi và chiếc xe đạp. Giả công an, Phước 8 ngón dẫn xe đạp công khai ra khỏi Chí Hoà đêm 26-3-1995.

3* Nhà văn trở thành tướng cướp Sơn Vương

Vào những năm 1931-1933, hàng chục vụ cướp làm chấn động Sài Gòn, mà đối tượng bị cướp là những phú hộ, những địa chủ gian ác vùng Biên Hòa, Sàigon, Tân An.
Đồng thời, xuất hiện những cuốn tiểu thuyết với cốt chuyện ly kỳ, văn chương trau chuốt: một tay hảo hớn thấy chuyện bất bình ra tay nghĩa hiệp. Để có tiền làm việc “cứu dân độ thế”, y nghĩ ra cách “làm tiền” bằng đánh cướp các chủ đồn điền cao su, cai tổng, Huyện hàm. Cách đánh cũng mới: xe hơi, súng lục, tạc đạn... truyện hấp dẫn như coi chiếu bóng...
Nhà văn và tướng cướp là một, anh ta đi ăn cướp để lấy cảm xúc thật sự viết tiểu thuyết. Đó là Sơn Vương.
3.1. Cuộc đời của Sơn Vương
Sơn Vương tên là Trương Văn Thoại, sinh năm 1908 tại làng Bình Nghị, huyện Tân Hòa, tỉnh Gò Công, nay là Tiền Giang. Là con thứ năm của ông Trương Đình Cung Anh, một địa chủ có học, lại thêm nghề bốc thuốc chữa bịnh, và là người có lòng hào hiệp, thường giúp đỡ người nghèo khó.
Sau khi học hết chương trình Cours Supérieur, (lớp nhất tiểu học), Trương Văn Thoại chuyển sang học võ nghệ và chữ Hán.
Năm 1925, ông bỏ làng đi theo một lão sư, mai danh ẩn tích để học võ và học đạo trên núi Thị Vải, vùng Long Hải, Bà Rịa.
Sơn Vương có vợ tên là Ngọc Dung, có 2 con, họ đã mòn mõi chờ đợi chồng và cha mãn hạn tù, những không gặp được, vì đã chết trước khi ông về.
3.2. Nhà báo, nhà văn
Năm 1931, sau khi sư phụ qua đời, Trương Văn Thoại về Sàigon. Ông đến văn phòng tờ báo "Đông Pháp Thời Báo" xin làm bất cứ việc gì, có lương hay không cũng được, miễn là được tham gia chủ trương "Thức tĩnh đồng bào" của tờ báo. Sau đó, ông gặp Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ báo La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè) và ông trở thành một cộng sự viên đắc lực của Nguyễn An Ninh và tờ La Cloche Fêlée với bút hiệu là Sơn Vương.
Các bài báo ông viết mang màu sắc bình dân, và nỗi cảm thông với tầng lớp nghèo khổ.
Những năm 1932-1933, Sơn Vương nổi tiếng nhờ những tiểu thuyết đăng tải trên báo. Đó là những tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, những tướng cướp hào hoa, nghĩa hiệp, cướp giàu giúp nghèo với những pha rượt đuổi xe hơi chạy như bay, bắn súng bằng cả hai tay…
3.3. Tướng cướp
Những tướng cướp mà ông mô tả trong tiểu thuyết phản ảnh chính bản thân của ông. Có người cho rằng ông đánh cướp, xông pha, mạo hiểm, tìm cảm giác mạnh thực sự, sống động để đưa vào những nhân vật trong tiểu thuyết.
Những năm 1931-1933, một mình Sơn Vương đã gây ra hàng chục vụ cướp mà đối tượng là những phú hộ, những địa chủ gian ác vùng Biên Hòa, Sàigon, Tân An.
Năm 1933, Sơn Vương gặp gỡ và kết nghĩa anh em với Nguyễn Phương Thảo, sau trở thành trung tướng Nguyễn Bình, tư lịnh các lực lượng quân sự của Việt Minh ở Nam Bộ.
Đầu tháng 7 năm 1933, 25 tuổi, để giúp tiền cho người em kết nghĩa là tướng Nguyễn Bình, Sơn Vương tổ chức đánh cướp tiền của René Gaillard, phó giám đốc đồn điền cao su Mimot, Cam Bốt, giáp ranh với Tây Ninh. Lấy được số tiền rất lớn trong thời đó là 50 ngàn đồng Đông Dương để giúp cho Việt Minh.
Vụ cướp trót lọt nhưng sau đó, tài xế Năm Đường phản bội nên Sơn Vương bị bắt vào ngày 16-8-1933. Bị kết án 5 năm tù khổ sai, đày đi Côn Đảo.
Năm Đường là bạn của Sơn Vương, làm tài xế, thừa lúc chủ đi vắng, lấy xe hơi đắt tiền giúp Sơn Vương đi đánh cướp. Vì ở Sài Gòn lúc đó chỉ có vài chục chiếc xe đắt tiền như thế, nên bị điều tra tới tấp, Năm Đường sợ quá, bèn thú tội và khai ra hết mọi việc.
3.4. Bắt đầu cuộc đời tù đày
Đến Côn đảo, Sơn Vương được những tù thường phạm nể phục vì ông có học và giỏi tiếng Pháp. Cuối năm 1933, Sơn Vương chiếm giải nhất trong cuộc thi viết chữ đẹp của tù nhân trên đảo, nên được giám thị cải huấn là Nguyễn Văn Liễn (Vệ Liễn) đưa ra cho vào làm việc tại Ty Ngân Khố đảo Côn Lôn (Côn Sơn sau nầy). Đồng thời dạy học cho con gái tên là Nguyễn Thị Lệ Hoa, 9 tuổi.
Tháng 7 năm 1936, Sơn Vương được chuyển về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương tổ chức la ó, đập phá để phản đối một giám đốc nhà tù người Pháp, vì đã tra khảo anh bồi (phạm nhân làm bồi) đến chết vì nghi ngờ anh ăn cắp 200 đồng bạc. Vì vậy, Sơn Vương bị đày đi Phú Quốc.
Đến tháng 2 năm 1938 thì được thả vì đã mãn hạn tù 5 năm khổ sai.
3.5. Tiếp tục đánh cướp
Ra tù được 6 tháng, Sơn Vương lại tổ chức đánh 3 vụ cướp:
- Vụ ông Kiệt ở Phú Nhuận, là một chủ nợ cho vay cắt cổ, và là cộng sự viên của người Pháp.
- Vụ Lý Tư, một người trong đám giang hồ Chợ Lớn có liên hệ với vua cờ bạc Sàigon là Sáu Ngọ.
- Vụ Cọp Lửa Từ Bi, (hỗn danh của một viên đội người Pháp nổi tiếng gian ác trong phòng điều tra của bót cảnh sát Polô, Chợ Lớn.
Ngày 16-8-1938, Sơn Vương bị tống giam về tội du đãng và bị đưa đi giam giữ tại trại Camp Pursat (Cam Bốt). Trên đường đi, Sơn Vương cưa còng và trốn sang Thái Lan.
Sau đó, bị bắt khi tìm cách về Sàigon và cũng bị lòi ra ba vụ cướp trước kia.
Lần nầy, Sơn Vương bị án 10 năm tù khổ sai về 2 tội, vượt ngục và 3 vụ cướp nói trên.
3.6. Chủ tịch Uỷ Ban Hành Chánh
Năm 1942, Sơn Vương bị đày ra Côn đảo lần thứ hai.
Ngày 9-3-1945, Nhật Bản đổ bộ lên Côn Đảo. Quân Nhật bắt giữ giám đốc nhà tù người Pháp là Tyssery. Sau đó, Nhật làm "Lễ Trao trả Độc Lập" quần đảo Côn Lôn (Poulo Condore) cho cái gọi là "Quốc Gia Tự Do Nông Dân Huynh Đệ quần đảo Côn Lôn" (État Libre Agricole et Fraternel d'Archipel de Poulo Condore) và trao quyền chúa đảo lại cho Lê Văn Trà, nguyên là thư ký của Tyssery. Lê Văn Trà ra tờ báo Tiếng Nói Tự Do và giao cho Sơn Vương làm chủ bút.
Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, Lê Văn Trà nạp con dấu nhà tù cho Việt Minh.
Ngày 11-12-1945, phái đoàn đại diện Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ cử Sơn Vương làm Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Chánh Côn Đảo. Ông tổ chức việc cai trị, giữ gìn anh ninh, trật tự, tổ chức lại sản xuất, cho cải táng hài cốt của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh chết trong nhà tù Côn đảo ngày 14-8-1943. Hài cốt Nguyễn An Ninh được bỏ vào một cái bao bàng, rồi đem chôn.
3.7. Xưng Vương
Ngay sau khi phái đoàn đại diện Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ về đất liền, Sơn Vương lại bộc lộ bản chất thảo khấu, anh hùng cá nhân, ông tuyên bố quần đảo Côn Lôn chính thức trở thành một "Quốc Gia Trung Lập Dân Chúng Quần Đảo An Ninh" (État Neutre des Insulaires de L'Archipel d'An Ninh) và xưng là Quốc Vương. (An Ninh là tên của Nguyễn An Ninh)
Sau đó, ông ta lập mưu ép buộc cô giáo Nguyễn Thị Lệ Hoa, cô học trò nhỏ thuở nào, làm vợ. Đám cưới được tổ chức linh đình, mọi người được được tha hồ ăn uống và nhảy múa.
Nhiều tù nhân căm hận Sơn Vương vì ông không cho họ trở về đất liền với gia đình. Ông cần có dân trên đảo để cai trị.
3.8. Tiếp tục cuộc đời tù đày
Ngày 8-4-1946, Pháp tái chiếm Côn Đảo. Sơn Vương và toàn bộ 400 thường phạm lại bị đưa trở vào nhà giam.
Để trả thù Sơn Vương đã bắt giam những cai tù và nhũng nhiễu họ, cảnh sát trưởng Nguyễn Thành Út đã vu cáo Sơn Vương, đang giữ tấm bản đồ kho báu của vua Gia Long, khi bị quân Tây Sơn rượt đuổi phải chạy ra trốn ngoài Côn Đảo vào năm 1783. Sơn Vương bị tên chúa đảo Gimbert và tên Cò Pellier tra khảo hết sức dã man để tìm tấm bản đồ tầm báu.
Năm 1947, Sơn Vương lại bị đưa về Sàigon, ra tòa với 2 tội danh là cưỡng hôn cô Lệ Hoa và chủ mưu giết ông già Quýt, người tố cáo Sơn Vương dùng quyền lực ép hôn cô Lệ Hoa và tội lãng phí công quỹ. Sơn Vương bị kết án chung thân khổ sai và bị đày trở ra Côn Đảo.
Ngày 8-8-1953, Sơn Vương giết Nguyễn Thành Út, người đã vu oan giá họa cho ông ta về vụ tấm bản đồ kho báu của vua Gia Long. Sơn Vương lại nhận thêm một bản án chung thân khổ sai nữa.
Như vậy, 2 cái án chung thân 64 năm *( Luật VNCH thời đó án tù chung thân là 30 năm), cộng với 2 bản án là 15 năm tất cả là 79 năm khổ sai.
Sơn Vương được phóng thích ngày 18-11-1968 sau khi ngồi 34 năm tù, phần lớn là ở Côn Đảo.
Khi trở lại đời thường, Sơn Vương cho đăng thiên phóng sự "Sơn Vương-Người tù thế kỷ" trên một số báo, đã gây xôn xao dư luận một thời.
8* Tác phẩm của Sơn Vương
Sáng tác của Sơn Vương khá đồ sộ, hơn 30 tác phẩm và nhiều trường thiên tiểu thuyết.

9* Vài nét về Côn Đảo và chuồng cọp

9.1. Côn đảo
Trước năm 1975, nhà tù Côn Đảo là nơi giam giữ phạm nhân có án từ 5 năm trở lên, bao gồm tội hình sự và chính trị. Về chính trị thì có chính trị quốc gia và Việt Cộng.
Côn Sơn với cơ quan hành chánh cấp tỉnh, gồm các ty, sở, tất cả chỉ phục vụ cho công tác cải huấn của chính phủ. Một trường trung tiểu học cho con em công chức và quân nhân.
Ngoài gia đình công chức và quân nhân, không có thường dân sống trên đảo.
Chỉ có một nhóm người được gọi là phó thường dân. Họ bị kết tội “lưu đày”, không có thời hạn mãn án.
Họ tự túc lương thực, được tự do đi lại trong thành phố của tỉnh, nhưng bị cấm đến những nơi có thể vượt ngục được. Họ không phải là những người nguy hiểm, nhưng không thể sống trong xã hội bình thường được, ví dụ như bị ra toà vài chục lần về tội ăn cắp vặt.
Tù thường phạm và chính trị gồm có 2 loại khi bị kết án tại tòa, ví dụ như 10 năm khổ sai hoặc 10 năm cấm cố.
Nghe 2 tiếng khổ sai, tưởng chừng như tội rất nặng, nhưng những tù cấm cố ước mong được làm khổ sai. Đó là được “xuất ngoại”, được hít thở không khí, thấy ánh nắng mặt trời, vận động tay chân. Trái lại, cấm cố thì quanh năm suốt tháng phải ở trong nhà giam.

Phòng biệt giam trong chuồng cọp
9.2. Chuồng cọp (Tiger cages) Chuồng cọp là những khu nhà giam, thường dành cho tù cấm cố, sự kiểm soát nghiêm nhặt hơn. Trong những khu chuồng cọp nầy, có những xà lim biệt giam dành cho những tù nhân cứng đầu, vi phạm kỷ luật.
Côn Đảo có khoảng 460 phòng giam trong những khu gọi là chuồng cọp.
Những người có hạnh kiểm tốt thì được cho ra làm việc tại các văn phòng của các ty, sở hoặc giúp việc cho các gia đình công chức, như làm vườn, chợ búa, nấu nướng, quét dọn, trồng rau cải…thường được cho tiền mỗi tháng, ăn cơm của chủ nhà, phần tiền ăn cơm tù được giữ lại, và phát ra khi mãn hạn tù.

10* Kết

Những người gây xáo trộn an ninh, trật tự xã hội, chiếm đoạt tài sản và xâm phạm tánh mạng người khác, thì thời nào, xã hội nào cũng đều bị luật pháp trừng phạt.
Điền Khắc Kim khi bị tù, khi chết, thân nhân, kể cả 2 vợ và 7 con, không ai thăm nuôi cả. Tro cốt cũng không ai nhận nên phải gởi trong chùa.
Sơn Vương bị hành hạ trong tù cho đến mang bịnh lao phổi, con người gần như trở nên dị dạng thừa chết, thiếu sống.
Những Đại Cathay, Bạch Hải Đường, Năm Cam…cũng đều có kết cuộc không tốt.
Những loại sơn tặc, hải tặc , không tặc, đều bị trừng phạt, duy chỉ có địa tặc thì vẫn còn an thân phì gia hưởng phước. Nhưng lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát. Nhãn tiền mà. Bà con an tâm chờ xem!
Trúc GiangMinnesota ngày 8-12-2011

Đổi mới chính trị: cần nhìn nhận đối lập dân chủ



Việt Hoàng “...Một đặc tính (mang đậm tính truyền thống Khổng Giáo) của trí thức Việt Nam là họ muốn làm người trung lập, người phản biện với chính quyền chứ không muốn làm người đối lập với chính quyền...”
Tình hình kinh tế chính trị và xã hội Việt Nam đang đứng trước những thử thách lớn, nhu cầu thay đổi đang là đòi hỏi cấp bách của mọi tầng lớp nhân dân. Chính quyền Việt Nam cũng đã nhận ra được sự nghiêm trọng của vấn đề, một cuộc ‘đổi mới kinh tế lần thứ 2’ được đảng cộng sản Việt Nam thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 bằng quyết định ‘tái cấu trúc nền kinh tế’.
Đổi mới kinh tế lần hai hay ‘tái cấu trúc nền kinh tế’ lần này đòi hỏi phải đổi mới về chính trị. Chiếc áo ‘thể chế chính trị’ rõ ràng là quá chật chội cho cơ thể kinh tế ngày càng lớn mạnh. Để làm được việc đổi mới kinh tế lần hai không phải đơn giản vì sẽ gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của các sứ quân kinh tế, tức các nhóm lợi ích, mà sức mạnh của nó là rất lớn vì có hậu thuẫn chính trị, cho nên muốn có đổi mới kinh tế thì đầu tiên phải có cải cách thể chế chính trị.
Tất cả những gì mà chúng ta đang chứng kiến bây giờ trong xã hội Việt Nam không phải là chuyện tự nhiên và mới phát sinh mà là sự tích lũy của cả khoảng thời gian dài do sự quản lý kém cỏi của chính phủ và mô hình nhà nước dựa vào một thứ chủ nghĩa lỗi thời đã bị cả thế giới từ bỏ. Vì sự thiếu tự tin mà chính quyền Việt Nam vẫn không chịu thay đổi về hướng dân chủ như nhiều nước đã làm. Bây giờ cũng vậy, nếu đảng cộng sản vẫn không dứt khoát từ bỏ sự ràng buộc vào chủ nghĩa Mac-Lênin và ‘con đường đi lên xã hội chủ nghĩa’ thì không thể nào đổi mới được thể chế chính trị và như vậy sẽ không thể nào đổi mới được kinh tế. Chúng ta phải đồng thuận với nhau trên một nguyên tắc căn bản của mọi cuộc cải cách rằng: ‘Chính trị là quyết định tất cả’. Phải thay đổi chính trị sau đó mới có những thay đổi về kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế…Thực tế Việt Nam đã chứng minh cho chúng ta thấy điều đó. Mọi kêu gọi, cố gắng đều nhanh chóng rơi vào quên lãng và mọi chuyện vẫn đâu vào đấy, không hề có một sự thay đổi nào đáng để nói, trong bất cứ lãnh vực nào.
Thay đổi chính trị bằng cách nào? Nhất là khi đảng cộng sản khăng khăng không chấp nhận chuyện đa nguyên, đa đảng? Thật ra mà nói thì chính quyền Việt Nam quá thiếu tự tin, nếu có đa đảng thì trong thời gian dài trước mắt cũng không có đảng nào vượt qua được đảng cộng sản. Singapore là một ví dụ, đảng Nhân Dân Hành Động đã cầm quyền từ năm 1959 đến tận bây giờ. Hay tại Đài Loan, Quốc Dân Đảng đã cải cách chính trị từ một nhà nước độc tài, độc đảng chuyển hóa thành một nước dân chủ đa đảng. Và cả Singapore lẫn Đài Loan đã trở thành những nước phát triển cao không những trong khu vực mà còn trên cả phạm vi toàn thế giới. Tại sao Việt Nam không mạnh dạn đi theo con đường này?
Nếu Việt Nam muốn cải cách chính trị theo hướng dân chủ thì việc đầu tiên phải làm đó là không được lấy ‘chủ nghĩa Mac-Lênin’, mộ thứ chủ nghĩa lỗi thời, viễn vông làm bình phong cho chế độ. Phải chấm dứt việc mị dân bằng cách hô hào tiến lên ‘chủ nghĩa cộng sản’ và ‘kiên định với chủ nghĩa Mác-Lenin’. Tiếp sau đó, đảng cộng sản cần nhìn nhận sự đa nguyên đa đảng tại Việt Nam, tức là chính quyền phải thừa nhận lực lượng ‘đối lập dân chủ’ Việt Nam. Chừng nào chưa có mặt của ‘đối lập chính trị’ trên chính trường thì mọi màu sắc dân chủ chỉ là giả tạo và dối trá. Sự ‘đối lập’ với chính quyền không riêng gì ở Việt Nam, mà nó hiện hữu ở bất cứ nơi nào trên trái đất này, nó như là lẽ tự nhiên của tạo hóa chứ không phải do người dân muốn hay không muốn, thích hợp hay không thích hợp. Sự ‘cầm quyền’ và ‘đối lập’ luôn là hai mặt của cuộc sống, tương phản nhưng gắn bó mật thiết với nhau như là nước với lửa, như âm với dương, như ánh sáng với bóng tối…
Vì sao chính quyền phải nhìn nhận đối lập dân chủ? Bởi vì:

-Cuộc sống vốn đa nguyên, Việt Nam với 87 triệu dân và 54 dân tộc anh em khác nhau nên khuynh hướng chính trị khác nhau. Không thể có chuyện cùng mặc ‘đồng phục tư tưởng’ cho tất cả mọi người. Sự áp đặt này trước sau rồi cũng thất bại vì nó đi ngược lại với qui luật của tự nhiên, qui luật của tạo hóa.
-Nếu không có đối lập dân chủ thì tự bản thân đảng cộng sản không thể nào tự thay đổi được. Không có cạnh tranh thì sẽ không có phát triển, không có sức ép từ đối lập dân chủ thì đảng cộng sản không thể nào trừng phạt được những cán bộ kém phẩm chất và sai phạm vì tất cả là đồng chí với nhau. Chuyện ‘giơ cao đánh khẽ’ là đương nhiên. Chính sự có mặt của đối lập dân chủ khiến đảng cầm quyền kiện toàn được tổ chức của mình khiến nó mạnh mẽ, trong sạch và có phẩm chất hơn vì đã loại bỏ được những kẻ không ra gì trong nội bộ đảng.
-Không có đối lập dân chủ thì một mình đảng cộng sản không thể kêu gọi đoàn kết và hòa giải hòa hợp dân tộc, nhất là trong những giai đoạn khó khăn, rất cần sự chung sức chung lòng của cả toàn dân. Do quyền lực của đảng không được kiểm soát suốt thời gian dài nên nó đã bị tha hóa trầm trọng, hậu quả là niềm tin của người dân mất đi, giờ muốn lấy lại nó không phải dễ, lời nói suông càng không thể. Phải có những hành động cụ thể và dứt khoát như việc nhìn nhận đối lập dân chủ mới có thể mở ra cánh cửa đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa nhà nước và nhân dân. Chính đối lập dân chủ sẽ làm ‘tấm đệm’ để hạn chế đến mức thấp nhất sự đổ vỡ và tức giận của những thành phần dân chúng bất mãn cao trong xã hội Việt Nam. Đối lập sẽ cùng với đảng cầm quyền tìm ra lối đi cho dân tộc, tránh các cuộc ‘cách mạng đường phố’ có thể xảy ra trong tương lai…
Để làm được việc cải cách chính trị như trên thì ai có thể đảm nhận được sứ mệnh quan trọng này? Theo tôi thì có hai lực lượng chính có thể làm tốt được việc này đó là ‘đảng cộng sản Việt Nam’ và ‘lực lượng trí thức dân chủ Việt Nam’.
Trước mắt thì quả bóng đang ở trong chân đảng cộng sản. Trong tài liệu: “Cải cách toàn diện để phát triển đất nước’ do 14 trí thức lớn, có tên tuổi của Việt Nam tại hải ngoại ký tên, có viết: ‘Chúng tôi cho rằng ở thời điểm này chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực hiện được cuộc cách mạng này. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự thay đổi để lãnh đạo dân tộc bước vào một thời đại mới, thời đại củng cố và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đất nước trở nên giàu mạnh, tự chủ’. Đây là mong muốn và thông điệp rất có thiện chí của nhóm trí thức Việt Nam, bài viết được chuẩn bị rất công phu và nghiêm túc. Lời lẽ ôn hòa và giản dị nhưng vẫn khái quát được bức tranh tổng thể của Việt Nam hôm nay. Những đề nghị của nhóm trí thức đều rất hợp lý và cần thiết. Những đề nghị đó chính quyền có thể hoàn toàn thực hiện được. Tuy nhiên điều mà tài liệu này còn thiếu vì chưa thấy đề cập đến đó là ‘thái độ và sự chọn lựa mà đất nước và nhân dân Việt Nam nên có’, trong trường hợp đảng cộng sản Việt Nam không chịu ‘tự đổi mới’. Bài này được viết với mong muốn bổ xung cho phần còn thiếu đó.
Nếu đảng cộng sản chấp nhận tự thay đổi để tồn tại và đi tới thì đó là điều rất tốt cho chính bản thân đảng và sau đó là cho cả đất nước, cả dân tộc. Để làm được điều này thì đảng cộng sản cần một nghị lực phi thường mới vượt qua được chính mình. Không ai đang (được) độc quyền lại muốn có kẻ cạnh tranh nhưng tình thế đã đến lúc phải thế, không muốn cũng không được. Bước đi đầu tiên cho phương án này là chính quyền Việt Nam cần nhìn nhận một vài tổ chức chính trị đối lập ôn hòa và có trách nhiệm, sau đó là mở các cuộc đối thoại và hợp tác với họ để cùng xây dựng một lộ trình dân chủ cho đất nước. Đây là phương án tối ưu cho Đảng cộng sản và cho đất nước. Không ai muốn đất nước thay đổi theo hướng bạo lực và đổ vỡ như trường hợp Libya. Với đảng cộng sản thì đàm phám và đối thoại khi đang ở thế mạnh sẽ có lợi hơn là khi không còn gì để mặc cả như trường hợp cố đại tá Gaddafi.
Tuy nhiên khả năng để tự chính quyền thay đổi là rất khó xảy ra vì thế vai trò của lực lượng trí thức dân chủ Việt Nam rất quan trọng. Để đảng cộng sản chấp nhận thay đổi thì phải có tác động (hoặc thúc đẩy) mạnh từ phía đối lập dân chủ và người dân Việt Nam. Và để có một đối lập dân chủ có tầm vóc và sức mạnh để buộc đảng cộng sản ngồi vào bàn đàm phán thì trí thức Việt Nam thay vì viết kiến nghị và thư ngỏ hãy cùng nhau ủng hộ cho các tổ chức đối lập dân chủ có tiềm năng. Đã nhiều năm trôi qua và bằng nhiều nỗ lực lẫn cố gắng nhưng trí thức Việt Nam vẫn chưa làm được được việc gì khiến chế độ Việt Nam thay đổi. Lần này trí thức Việt Nam hãy hành động bằng một cách khác đó là cách đấu tranh có tổ chức, có đội ngũ, có sự phân công và phối hợp rõ ràng.
Trí thức Việt Nam hình như quên đi một điều rất giản dị đó là nếu giả sử đảng cộng sản muốn đối thoại với nhân dân Việt Nam thì đằng nào cũng buộc phải có một tổ chức ‘đối lập dân chủ’ đứng ra làm đại diện, vậy thì tổ chức đó sẽ là tổ chức nào? Không lẽ chính quyền phải đi nói chuyện với từng người dân một? Một đặc tính (mang đậm tính truyền thống Khổng Giáo) của trí thức Việt Nam là họ muốn làm người trung lập, người phản biện với chính quyền chứ không muốn làm người đối lập với chính quyền. Điều này cũng không có gì là xấu, là sai nhưng với điều kiện là đất nước đã có dân chủ. Khi đất nước chưa có dân chủ thì ai sẽ làm trọng tài và giữ cho trí thức cái quyền phản biện và trung lập? Vì vậy trong giai đoạn này việc dấn thân cho dân chủ là trách nhiệm của trí thức Việt Nam. Họ phải chọn cho mình một con đường hoặc một lập trường thật rõ ràng. Một trong những lập trường cần có của trí thức Việt Nam là họ phải đi trước và dẫn đường cho quần chúng chứ không phải ngược lại. Trí thức phải là đầu tàu. Những gì đang diễn ra tại nước láng giềng Miến Điện không thể không khiến cho giới trí thức Việt Nam suy nghĩ và tự hỏi mình rằng: Tại sao trí thức Miến Điện đứng đầu là bà Aung San Suu Kyi họ làm được việc dân chủ hóa đất nước mà trí thức chúng ta thì không?
Nếu hai lực lượng trên (đảng cộng sản và trí thức dân chủ Việt Nam) không đảm nhận được vai trò tiên phong của mình thì vẫn còn một thành phần nữa có thể làm nên lịch sử, đó là tầng lớp nhân dân nghèo khổ đứng dậy làm cách mạng. Khi lực lượng này làm cách mạng thì không nói chúng ta cũng đều biết đó là sự thảm khốc và đổ vỡ vô tiền khoáng hậu. Đất nước của chúng ta đã quá nhiều đau khổ và đổ vỡ rồi nên không ai muốn có thêm bất cứ sự đau thương nào nữa, thế nhưng muốn là một chuyện còn nó có xảy ra như ý muốn hay không lại là một chuyện khác, rất khác.
Việt Hoàng

Tư Bản sẽ Rút Vốn 1.2 Tỉ Đô Vì Nhiều Cổ Phiếu VN Sụt 70%


Trong khi đó, ngân hàng lãi nghìn tỷ, doanh nghiệp chết vì trả lãi cao…
(VietBao)_Vốn ngoại ra đi,” đó là một bài phân tích về tình hình đầu tư tại VN trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn hôm Thứ Sáu. Đặc biệt là viễn ảnh năm 2012 các quỹ tư bản quốc tế sẽ rút vốn khỏi VN tới 25.000 tỉ đồng (=1.2 tỉ đôla Mỹ).
Nhà phân tích kinh tế Hải Lý trên báo này cho biết trong khi khủng hoảng điạ ốc, bất động sản tại VN sụt giá thê thảm, nhưng bây giờ vẫn chưa tới đáy, thì cổ phiếu nhiều công ty lớn tại 2 thị trừờng chứng khoán VN đã mất giá 50-70%… thì có một hiện tượng, theo thông tấn VnMedia, “Ngân hàng lãi nghìn tỷ, doanh nghiệp “chết” vì trả lãi cao…”
Bài báo trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn ghi nhận bất động sản sụt giá, làm hại cổ phiếu ngân hàng, và giới đầu tư quốc tế bỏ chạy luôn khỏi thị trườøng cổ phiếu VN:
“…từ đầu tháng 11 thị trường bất động sản bắt đầu “rùng mình” với hàng loạt dự án căn hộ, biệt thự giảm giá mạnh trong một nỗ lực tìm đầu ra nhằm thu hồi vốn trả nợ ngân hàng của các chủ dự án đầu tư.
Ngay lập tức, giá cổ phiếu bất động sản niêm yết lao dốc không phanh. Các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của Vietnam Property Fund; Vietnam Enterprise Investments Limited (Veil); Vietnam Growth Fund do Dragon Capital quản lý như HAG, SJS, SCR, BCI, DIG… bị bán tháo.
Sau bất động sản, đến lượt cổ phiếu ngân hàng…(…)
Vì sao họ bán?
Những năm trước, có nhiều thời điểm nhà đầu tư nước ngoài cũng bán ròng cổ phiếu, nhưng khi đó có thể nhận ra chiến lược “bán rẻ để mua lại rẻ hơn”. Vì vậy, khi thị trường phục hồi, lực cầu của khối ngoại đã tạo điều kiện cho VN-Index có những bước nhảy về phía 600 điểm. Nay thì không, họ bán và bán luôn, hầu như không có dấu hiệu nào chứng tỏ họ sẽ trở lại. Trong các báo cáo dành cho nhà đầu tư ở bên ngoài Việt Nam, một số tổ chức tài chính nhận định chứng khoán Việt Nam chưa đến đáy. Hai điểm nhấn được họ liệt kê để chứng tỏ đáy chưa thể gần là sự ổn định của giá trị đồng nội tệ sẽ còn chịu nhiều thử thách và lạm phát trong năm tới chưa thể rơi về mức một con số.
Bên cạnh đó, phần lớn các quỹ ngoại đang chịu sức ép đóng quỹ vào năm sau. Có rất ít khả năng các nhà đầu tư gia hạn cho các quỹ hoạt động. Thống kê chưa đầy đủ chỉ ra số tiền mà các quỹ ngoại phải thoái vốn năm 2012 lên tới 25.000 tỉ đồng. Đây là dựa vào giá trị tài sản ròng NAV mà các quỹ đang nắm giữ, chứ không dựa trên số vốn đầu tư ban đầu. Phần lớn các quỹ đều giải ngân vào hai năm 2006-2007. So với mặt bằng giá cổ phiếu hiện tại, NAV của họ chỉ còn bằng một nửa, thậm chí một phần ba giá trị đầu tư ban đầu. Chẳng hạn một trong những quỹ lớn hiện nay là DWS Vietnam Fund có NAV 198 triệu đô la Mỹ vào ngày 30-11-2011 so với vốn đầu tư ban đầu 500 triệu đô la Mỹ cách đây năm năm (nguồn: Edmond de Rothschils Securities Limited).
Để có thể thoái hết số vốn trên, cần có sự chuẩn bị. Một số quỹ đã bắt đầu bán ra danh mục từ đầu năm nay. Trong 12 tháng qua, VN-Index giảm 18,6% – mức giảm không lớn nhờ sự neo giá hoặc tăng giá của những cổ phiếu có vốn hóa lớn như MSN, BVH, VIC, VPL, nhưng nhiều cổ phiếu blue-chips đã mất giá 50-70%. Hnx cùng thời gian giảm 44,2%…”
Đặc biệt, một chuyên gia về chứng khoán khi sang Mỹ 3 tuần lễ đã nghe nói thẳng rằng tăng trưởng kinh tế VN kể như là hết rồi, nếu… “Trong ba tuần ở Mỹ, tiếp xúc với hàng loạt quỹ đầu tư tại đây, tổng giám đốc một công ty chứng khoán cho biết ông không nhận được một sự hứa hẹn nào đầu tư vào Việt Nam năm tới. Ông buồn rầu nói: “Có quỹ họ nói thẳng có thể câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam đang kết thúc nếu cách điều hành nền kinh tế chậm thay đổi”…”
Thông tấn VnMedia trong bản tin cùng ngày 9-12-2011, ghi nhận tình hình rằng, thống kê về thất nghiệp VN chỉ nói lên 1/10 con số thực.
Bản tin viết: “Về vấn đề lao động việc làm, đại biểu Nguyễn Thị Thùy khẳng định: “số lao động thất nghiệp theo báo cáo là thiếu rất nhiều, bởi theo tính toán của ngành thống kê, thì số thất nghiệp thực tế phải lên đến 10 lần, tức là vào khoảng 130.000, bằng đúng con số mà chúng ta tạo việc làm trong 1 năm”…”
Mặt khác, ngân hàng với lãi suất cắt cổ đã làm các doanh nghiệp thê thảm. Bản tin VnMedia kể:
“Ngân hàng lãi nghìn tỷ, doanh nghiệp “chết” vì trả lãi cao…
Theo đại biểu Hà Nội, trong khi hàng chục nghìn DN phá sản vì khó khăn về vốn, thì các ngân hàng đang lãi hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng vì trả lãi cho người dân thấp nhưng cho DN vay lãi cao, với mức chênh lệch “cao nhất thế giới”

Nga biểu tình rầm rộ, quy mô nhất từ sau Liên Xô sụp đổ



Trần Thị Sông Dinh, theo AP
Cali Today News – Ngay sáng thứ bảy, nguồn tin của AP từ Moscow cho biết là hàng chục ngàn người dân Moscow đã xuống đường biểu tình chống Thủ tướng Nga Vladimir Putin và tố cáo bầu cử gian lận.
Họ tập trung khu chiếc cầu gần điện Cẩm Linh và kêu gọi chấm dứt sự “cai trị” của Putin. Không chỉ biểu tình tại thủ đô Moscow, nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra trên khắp cả nước. Đây là cuộc biểu tình khổng lồ nhất từ sau khi Sô-Viết sụp đổ. Đây là cuộc bộc lộ quy mô nhất của sự bất mãn của dân chúng đối với chính phủ Nga. Nguồn tin của chính phủ cho biết chỉ có 25 ngàn người biểu tình, trong lúc đó, nguồn tin của Ban tổ chức biểu tình, thì cho rằng số người biểu tình lên đến 150 ngàn người.


Người biểu tình tụ tập với nhau để phản đối chống lại cáo buộc gian lận phiếu bầu trong cuộc bầu cử quốc hội Nga tại Moscow. Photo courtesy:AP
Cuộc xuống đường này là sự bỉ mặt đối với Putin, một người được truyền hình nhà nước cho là được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng. Ông Putin làm tổng thống Nga hai nhiệm kỳ từ năm 2000 đến năm 2008, tiếp theo tổng thống Boris Yelsin. Vì quy định của hiến pháp là tổng thống Nga chỉ có thể làm tổng thống hai nhiệm kỳ liên tiếp, nên ông Putin sau hai nhiệm kỳ, đã nhượng cho ông Medvedev làm tổng thống, và ông lui về chức thủ tướng, nhưng ai cũng hiểu rằng nhân vật quyền lực số 1 của Nga vẫn là ông Putin.
Và tháng 3 tới, ông sẽ tái ứng cử tổng thống Nga trở lại, cho nhiệm kỳ thứ ba và cuộc biểu tình quy mô rầm rộ này là một sự thách thức đối với ông, là một thử thách đối với uy tín của ông.
Uy tín của ông và đảng Nước Nga Thống Nhất của ông đã giảm xuống đáng kể khi đảng này qua cuộc bầu cử quốc hội vừa qua chỉ chiếm được 49% số phiếu, nhưng đã mất đi sự ủng hộ đáng kể so với cuộc bầu cử lần trước khi đảng này giành được 75% số phiếu. Tuy chỉ có 49% số phiếu, nhưng đảng Nước Nga Thống Nhất vẫn giữ được đa số ghế tại quốc hội và như thế vẫn giữ được chức thủ tướng trong thời gian tới.
Dư luận cho rằng nếu đảng Nước Nga Thống Nhất không gian lận phiếu thì đảng này bị sụp đổ thảm hại.
Chính tình trạng gian lận bầu cử đã khiến dân chúng nổi giận và biểu tình ngày hôm nay. Ngoài cuộc biểu tình lớn tại Moscow, tại St. Petersburg, cuộc biểu tình cũng có gần 10 ngàn người tham dự, và biểu tình bùng nổ ở 50 thành phố trên khắp cả nước.
Gần 100 người biểu tình đã bị bắt giữ, ít hơn nhiều so với hàng trăm người bị bắt giữ trong các cuộc biểu tình ngay sau bầu cử vào ngày 4 tháng 12 vừa qua. Cảnh sát thẳng tay đàn áp những cuộc biểu tình không cho phép, tuy nhiên vẫn nương tay hàng trăm tay thiên tả cấp tiến biểu tình tại khu Quảng Trường Đỏ.
Tại thành phố hải cảng Vladivostok, hàng trăm người biểu tình còn trương khẩu hiệu chống Putin và kêu gọi “Những con chuột phải cut đi”, ám chỉ đảng của ông Putin phải cut xéo đi.
Lâu nay các đài truyền hình do nhà nước kiểm soát tránh đưa tin biểu tình bất lợi cho ông Putin, nhưng lần này đã dành một số thời lượng đáng kể để đưa tin tức về cuộc biểu tình.
Chính quyền thủ đô Moscow tuy cho phép biêåu tình, nhưng lại sợ tuổi trẻ tham dự, cho nên họ bày ra lệnh khan cấp ban hành vào ngày thứ sáu, yêu cầu bắt buộc học sinh từ lớp 9 đến 11 đi học vào ngày thứ bảy.
Tổng thống Nga là Dmitry Medvedev thú nhận là luật bầu cử đã bị vi phạm và thủ tướng Putin tỏ ra muốn đối thoại với thành phần đối lập, và đây là điều bất thường vì ông vốn là một tay độc tài, không chịu đối thoại.
Quốc tế gây sức ép nặng nề đối với Nga, yêu cầu điều tra về những tố cáo gian lận. Bà Hillary Clinton lên tiếng cuộc bầu cử là không công bằng và yêu cầu điều tra những gian lận bị tố cáo. Đáp lại, ông Putin chỉ trích Hoa Kỳ đã kích động biểu tình, gây nước Nga yếu đi.
Với sự thành công này, phe đối lập sẽ hoạch định kế hoạch chiến lược lâu dài, và chính ông nghị sĩ McCain nói thẳng với thủ tướng Putin là cách mạng Mùa Xuân Á Rập đang ở gần với Nga, tuy thế giới bình luận cho rằng tình hình không thể đơn giản như thế.
Tại các nước Cộng Hoà thuộc Xô Viết cũ, thời gian qua có những cuộc cách mạng làm sụp đổ chính phủ như Geogia (2003), Ukraine (2004),… và những cuộc xuống đường long trời lỡ đất ở Ai Cập, Lybia, Syria… khiến cho chính quyền Nga thận trọng trong vấn đề đối xử với người biểu tình. Các nhà tổ chức đang cố vận động một cuộc biểu tình khác lớn hơn tại Moscow vào cuối tuần tới.
Các cuộc vận động biểu tình thường qua hệ thống Facebook, thế nhưng theo viên chức của công ty Vkontakte, một ấn bản tiếng Nga của Facebook thì Vkontakte chịu áp lực từ FSB (hậu thân của KGB) là phải ngăn chận sự truy cập của phe chống đối, thế nhưng Vkontakte đã phản đối sự can thiệp này từ FSB.
Vào ngày bầu cử vừa qua, trang mạng của hệ thống radio độc lập và trang mạng của nhóm theo dõi bầu cử độc lập đã bị hackers (tin tặc) tấn công và ngưng hoạt động…
Nước Nga đang trong những ngày tháng căng thẳng và chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi…

Thủ tướng và dân chủ


Nguyễn Phương Anh Sự lớn mạnh về quyền lực của thủ tướng trong thời gian gần đây là không phải bàn cãi. Những lúc khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề như bauxite, thuê rừng đầu nguồn hay các cuộc biểu tình vừa qua đều được thủ tưởng trực tiếp làm dịu tình hình như việc trao huy hiệu 70 năm tuổi đảng cho ông Đồng Sỹ Nguyên mà đáng lẽ tổ chức đảng nên làm; thủ tướng cũng đề nghị làm luật biểu tình và phát biểu về việc Trung quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng sa của nước nhà. Những việc làm đó nhằm củng cố thanh thế trong đảng và cũng một phần làm mất khả năng phản ứng của dân trước những chính sách không được đồng thuận. Đây cũng coi như sự thay đổi trong cách hành xử mà đảng thường làm; chỗ nào không có sự phủ sóng của đảng thì vẫn coi là thù địch nhưng nay có khác hơn chút ít, đó là hợp thức hóa chỗ ngoài vòng phủ sóng hợp lý như là ý kiến của thủ tướng.
Những người kỳ vọng về sự thay đổi theo hướng dân chủ lại được dịp hy vọng vào thủ tướng một lần nữa. Trước đây họ coi thủ tướng như lãnh đạo của phe thân Mỹ trong đảng và nay với những phát biểu tích cực thì kỳ vọng một Gorbachev cho Việt nam lại đang thức giấc trở lại. Liệu thủ tướng có mong muốn như vậy hay không và nếu đi theo con đường đó sẽ có khó khăn gì. 
Thủ tướng hiện nay chưa phải là tổng thống, tổng bí thư như ông Gorbachev nên không thể dùng quyền hiến định cho mình để làm được việc giống trước. Cho dù thủ tướng có sự hậu thuẫn của quân đội, công an và cả quốc hội nữa thì hành động để đạt được ý định như của Gorbachev vẫn mang tính chất đảo chính. Và "cuộc chơi" coi như chưa chắc chắn. Vả lại quyền lực hiện nay của thủ tướng có thể coi như khuynh loát được chính trường và nên áp dụng câu "giữ chùa thờ Phật thì ăn oản" là kế sách hay; không nên xáo trộn làm gì khi quyền lực giống các chúa Trịnh xưa. Còn những sai sót nếu có thì vẫn có thể đổ lỗi cho cơ chế. 
Những tiếng nói bất đồng của các công thần hay con cháu của họ thì chính ông cũng đã có các cách giải quyết như trong vụ Cù Huy Hà Vũ; răn đe và trừng phạt dựa trên sự chuyên chính vô sản sẵn có. Vốn thủ tướng xuất thân từ miền Nam nên các vụ việc mà giới sỹ phu đất bắc sẽ gây áp lực còn xảy ra; vụ việc trên là một đòn giáng vào ý chí của những người muốn thử sức với “bộ máy” của thủ tướng. Chuyện “đàn áp” ai đó sẽ trở thành đơn giản như một tiếng thở dài khi thủ tướng trót "đánh vỡ đồ quý" mà thôi. 
Có thể coi đối thủ chính trị tiềm năng của thủ tướng chính là ông Trương Tấn Sang - chủ tịch nước; đồng niên với thủ tướng. Khi đồng nhất chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư làm một thì ông Sang sẽ được chính danh hơn vì đang giữ chủ tịch nước. Ông Trọng đương kim Tổng bí thư thì tuổi đã cao và hết nhiệm kỳ này là làm xong trách nhiệm trước đảng. Động thái vừa qua chủ tịch nước trao quyết định thăng hàm thượng tướng cho nhiều người cũng là cách "đánh dấu lãnh thổ" như hiến pháp quy định. Một phần của những hành động lấn sân thủ tướng. Việc chủ tịch đi thăm thác bản Giốc cũng nhằm đóng đinh chủ quyền chính trị trước đối thủ. Rút kinh nghiệm bài học của Liên xô nên ngay trong đảng cũng có khối quyền lực không mong muốn thủ tướng lại được kiêm cả chức tổng bí thư và chủ tịch nước. Sự hậu thuẫn ngầm cho ông Sang là rất lớn vì khi thủ tướng đạt được như vậy thì quyền lực là vô biên. 
Nếu ông Sang giữ hai chức vụ thì chế độ sẽ vẫn như bên Trung quốc hiện nay; còn nếu thủ tướng giữ hai chức vụ quan trọng đó thì sẽ có nguy cơ giống Liên xô vì chức vụ chủ tịch quốc hội hiện nay như là quân xanh của thủ tướng rồi. Nếu vượt qua được ông Sang thì có thể suy đoán được những việc tiếp theo; mô hình Putin sẽ thay thế mô hình Hồ Cẩm Đào. 
Sinh năm 1949 đến năm thủ tướng 65 tuổi sẽ là đại hội 12, ông lên chức chủ tịch nước và kiêm tổng bí thư; sau vài năm sửa đổi hiến pháp đến cỡ 66-67 tuổi sẽ làm tổng thống và gì chứ 2 nhiệm kỳ ông sẽ vẫn đảm đương được. Nước nhà lúc đó có thể được hưởng dân chủ như kiểu cộng hòa Nga bây giờ. Đến năm 78 tuổi ông sẽ "truyền ngôi". Nếu ông Sang thắng thì cuộc đua sẽ chấm hết với thủ tướng; ở lại tiếp hay sang quốc hội đều không phải lựa chọn hay. Phần thưởng cũng chỉ có thể là 1-2 nhiệm kỳ vẫn ở trong Bộ chính trị. 
Giả sử những tình huống xảy ra như vậy thì đó không phải là cách mà nhiều người yêu thích dân chủ mong muốn. Kỳ vọng "Gorbachev Việt nam" dù có xảy ra cũng không giải quyết được vấn đề dân chủ hóa đất nước. Đảng cộng sản thì cương quyết không chấp nhận đa nguyên. Kinh tế đất nước đang có những biểu hiện không tốt, môi trường bị hủy hoại từng ngày, văn hóa cũng đang xuống cấp, lãnh thổ bị xâm chiếm…. Thế giới văn minh đang có những sức ép đòi hỏi thay đổi. Những người đấu tranh cho dân chủ sẽ làm gì trong tình huống này. 
Hà nội, 10/12/2011. 
gửi Dân Làm Báo

Bài HAY


Không có gì giàu hơn giải phóng

Nguyễn Bá Chổi (danlambao) Mới ngày nào miền Bắc phải “cắn hạt muối làm ba” để cứu đồng bào miền Nam bị Mỹ Ngụy bóc lột đến chút muối cũng không có mà ăn, khiến họ, vốn đã hy sinh đến cái lai quần để đánh cho mỹ cút ngụy nhào, cũng chẳng khá gì. Rồi đến khi Miền Nam được giải phóng hoàn toàn, họ lại phải rán chày ra mỡ sắm được vài cái chén đất nung, bớt xén vài ki lô gạo tiêu chuẩn để mang vào Nam cứu nguy khẩn cấp họ hàng phải ăn toàn bo bo đựng trong vỏ dừa. Cũng may giải phóng kịp chứ muộn đi chút nữa là dân Miền Nam chết sạch; chứ có hòng ngồi đó mà chờ khúc ruột ngàn dặm hàng năm gửi về cho hàng chục tỷ Đô la Mỹ cút. Vậy mà bây giờ ngoài ấy vào, ai cũng giàu to, lấn át người mang tiếng được giải phóng chỉ còn cái giải... rút tụt quần phơi phần dưới rún.
Cú bắt đầu... giàu đầu tiên và tức thì là ngay sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh mang đến Muà Xuân Đại Thắng, kết thúc cuộc chiến tranh thần thánh-- thần thánh đây là thần thánh thứ thiệt tức thánh tổ Mác Lê nhọn, sắc như kim như cắt, chứ không phải loại thần thánh bên đạo thờ ông Giêu Su hiền khô để bọn xấu lột trần đóng đinh treo trên thập tự giá, khiến dân phòng Hà Nội ta coi chẳng ra chi, cứ nghêng ngang vào nhà thờ miệng chửi bới, lưng thắt dùi cui, tay vân vê thuốc lá cháy đỏ dí vào đám tu sĩ mê tín đang thờ bái, mà chẳng hề bị thánh vật -- là từng đoàn xe Môlôtôva ngày đêm tấp nập nhộn nhịp hồ hởi phấn khởi vào-không ra-có mà bọn chống phá cách mạng, nói xấu tổ Cò gọi chọt là “Bốn Vờ” tức “vờ-Vào vờ-Vơ vờ-Vét vờ-Về”, chất đầy chiến lợi phẩm. Nào những TV, tủ lạnh, xe ô tô, xe Honda, xe đạp, quạt điện, bếp điện, bếp ga, cái giường, tấm phản, manh chiếu, tấm ra (drap, tiếng Pháp), không tha một thứ. 
Mai này không biết sử sách sẽ ghi lại thời kỳ quá độ của những đoàn xe 4V này kéo dài chính xác bao nhiêu năm mới thực hiện xong nghĩa vụ cao cả đảng giao phó. Vì tàn dư Mỹ Ngụy để lại thì quá nhiều; ngoài những thứ trên còn có những cái cọc sắt, dây kẽm gai, tấm vĩ sắt, cái bao cát, cái gì của mỹ ngụy cũng... qúy hơn độc lập tự do co ro xó bếp bấy lâu nay. Chỉ tính cái món đồng hồ có cửa sổ hay không cửa sổ, có người lái hay không người lái; đang xài được hay vứt đi của địch cũng đủ làm bát nháo thị trường buôn bán quà cáp về Bắc, hay tư trang cá nhân ngoài ấy nằm mơ cả đời vô sản cũng chẳng có ngày được tơ vương. 
Đề cập cú... giàu đầu tiên của giải phóng liệt kê sơ sơ trên đây mang tính “đại trà” chung chung đa thành phần, mà không nhắc đến cú... giàu đầu tiên của mấy vị lãnh đạo chóp bu là một thiếu sót nghiêm trọng. Đó là cú giàu cực nhanh, cực gọn và nhất là cực nặng với mười sáu tấn vàng do phó thủ tướng Ngụy Nguyễn Văn Hảo bàn giao đầy đủ ngày 2/5/75. Đó là tài sản quốc gia nhưng bây giờ nó đã hoá ra con mà nhà họ Hát, “đố mày bắt được tao”. 
Nhắc đến quan chóp bu Cách mạng bu quanh một đống vàng Ngụy “để” lại, thì cũng đừng nên quên quan tép riu cũng đầy cơ hội “hồi môn” của giải phóng, làm giàu như chơi. Người viết “được” trực tiếp chứng kiến trường hợp một anh cán bộ làm thuế vụ xã ngoài bắc vào ghé thăm một gia đình bà con ở vùng Tây Nguyên. Anh ta nói là đã bán hết tài sản ngoài đó, sắm được một chỉ vàng để làm vốn vào Sài Gòn sinh sống. Khoảng chưa đầy 5 tháng sau, Chổi có dịp đi theo người bà con kia ghé thăm anh cựu cán bộ thuế vụ xã. Anh ngụ trong một ngôi nhà hai tầng, rất khang trang với tiện nghi đầy đủ và khá sang. Anh ta nói anh mới mua nhà này và còn có hai ngôi nhà khác đang cho mướn. Chổi trố mắt lên vì vẫn nhớ chủ nhà chính là người mới hôm nọ vào Nam trên tay chỉ một chỉ vàng, tuy cách phục sức và da dẻ thay đổi nhiều. Hình như khám phá ra sự thua kém “phân bì”của khách, chủ nhà nói như trách anh khù khờ, “anh vào Nam mấy chục năm sao không về Sài Gòn mà sống?”. 
Không cần phải ở thành thị, nhưng giải phóng xong MN bất cứ ở đâu cách mạng cũng làm giàu dễ như chơi. Chẳng hạn trên miền núi, người địa phương trồng cà phê, bao nhiêu công của vất vả chăm bón tưới tiêu vốn liếng phân, dầu, đủ thứ đến khi hái đóng bao chở về bị dân cách mạng mới di cư vào ở bên kia đường chặn lại dí súng tịch thu; hay lúa chưa kịp gặt cũng bị họ bao vây gặt lấy giữa ban ngày, nhưng khổ chủ không ai dám lên tiếng, vì biết phận mình là “kẻ có tội với nhân dân chạy theo Mỹ ngụy vào Nam” 1954. Rồi đất đồn điền cao su của người ta, họ tự động cắm ranh, đốn cây, chia lô, đem bán. 
Nàng Thúy Kiều thuở trước phải lưu lạc 15 năm. “Mười lăm năm ấy biết bao là tình”. Nay Cách mạng giải phóng Miền Nam đã 36 năm. Ba mươi sáu năm giải phóng biết bao là giàu. Làm sao mà kể cho xiết. Xin chấm dứt bằng vụ tiền “vô như nước” biết được mới đây nhất: 
“Vào lúc 3 giờ chiều ngày 2 tháng 12 năm 2011, cả trăm công an đã xông vào nhà tôi và chốt chặt các lối ra vào nhà, hành hung, đánh đập mẹ tôi - Mai Thị Yến, con gái tôi là Huỳnh Thục Vy, con trai tôi - Huỳnh Trọng Hiếu và hai cô em gái tôi là Huỳnh Thị Hường và Huỳnh Thị Thu Hồng. Họ đọc 3 quyết định xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó: phạt tôi 100 triệu đồng, con gái tôi - Huỳnh Thục Vy 85 triệu đồng, con trai tôi - Huỳnh Trọng Hiếu 85 triệu đồng. Tổng cộng 270 triệu đồng. Sau đó, họ tịch thu 1 máy ảnh Canon và 6 điện thoại di động của người nhà tôi và bắt luôn cháu trai tôi là Huỳnh Ngọc Lễ (lúc đó đang mặc áo No-U) lên xe chở về đồn công an vì “chống người thi hành công vụ” (do cháu xông vào bảo vệ Huỳnh Thục Vy đang bị đánh) Sau khi họ rút hết khỏi nhà tôi, hai em gái tôi đã kiểm tra lại tủ đựng tiền và phát hiện bị mất 3000 đô la, trong đó có cả đô la Mỹ, Úc, Canada” (trích “Bản Kháng Thư của Huỳnh Ngọc Tuấn”). 
Nhờ giải phóng mà từ “cắn hạt muối làm ba”, nay người ta tiến lên cắn được đủ thứ. Nhà, Đất, Ruộng, Đồng, Rừng, Quặng, Biển, Đảo; cắn luôn đồng bào yêu nước, đạo lý tổ tiên; cắn luôn thần thánh. Cực kỳ là giàu vật chất, lại còn cực kỳ giàu thú tính.