Tang lễ của Mẹ Theresa năm 1997 tại Ấn Độ
Trần Trung Đạo -
Dù dưới một quan điểm tôn giáo nào, sự có mặt của con người trên thế
giới này chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn. Với tác giả
bài viết này và có lẽ với nhiều độc giả, tiếng sóng vỗ vào thành ghe
trong một đêm giông bão như vẫn còn vang vọng đâu đây nhưng đã hơn 30
năm rồi. Một triết gia đã viết, mỗi bước chân ta đi trong ngày là một
bước gần hơn đến với ngôi mộ của mình.
Con
người sinh ra đều trơ trụi giống nhau nhưng cuộc đời và cách chết đã
làm họ khác nhau. Có những người chết đi để lại nhiều lợi lạc cho hậu
thế, một cách sống đạo đức cho con cháu noi gương nhưng cũng có những
kẻ chết đi, dù được che đậy dưới lớp hào quang giả tạo rực rỡ dường nào
hay bức tường thành thông tin bưng bít dày đến bao nhiêu, tội ác của
họ cũng có một ngày được phanh phui để lộ nguyên hình những ác nhân
thời đại. Con khủng long chết 65 triệu năm trước vẫn được tìm ra, nói
chi là con người. Lịch sử là lương tri và từ sơ khai đến hiện đại lịch
sử luôn phán xét công bằng, cho đến nay chưa ai tránh thoát.
Một
buổi sáng tháng Chín 1997, trên đường phố Calcutta, hàng triệu dân Ấn
đứng dọc hai bên đường để tiễn đưa một nữ tu đã dâng hiến gần trọn đời
mình cho lớp người cùng khổ. Con đường đó, từ 1929, nữ tu gốc Albany
thuộc dòng Loreto Sisters đặt chân đến lần đầu khi mới 19 tuổi. Vỉa hè
Calcutta là nơi nữ tu thường đến để ngồi an ủi những người đang chết.
Không có ngay cả một viên thuốc, nữ tu chỉ biết cầm lấy bàn tay đầy máu
mủ của bịnh nhân và xua đuổi đi bầy kiến đang bám lên vết thương đau
nhức. Nhiều bịnh nhân đã đáp lại bằng cách mỉm cười thay cho lời cám ơn
trước khi hắt ra hơi thở cuối cùng. Và những khu nhà ổ chuột Calcutta
này là nơi chiều chiều nữ tu một tay cầm một chiếc khăn và tay kia cầm
một cục xà phòng đến tắm cho trẻ em nghèo trong xóm. Nhiều năm sau,
chính đám trẻ này là những người đầu tiên gọi nữ tu là mẹ. Mẹ Teresa
như nhân loại biết hôm nay.
Ngày
5 tháng 9 năm 1997 mẹ không đến nữa vì hôm đó là ngày mẹ ra đi. Quan
tài Mẹ Teresa được phủ quốc kỳ Ấn Độ thay vì Albania, nơi mẹ chưa một
lần trở lại. Ngày đi, mẹ vẫn mặc chiếc áo vải trắng viền xanh Sari trị
giá 1 rupee mẹ tự sắm cho mình sau khi chính thức rời khỏi dòng tu
Loreto Sisters. Đoạn đường từ quảng trường Netaji, nơi tổ chức thánh
lễ, đến Căn Nhà Của Mẹ, nơi mẹ sẽ yên nghỉ, chìm trong không khí tôn
nghiêm trang trọng. Những em bé Ấn Độ tay cầm những bông hoa nhỏ vẫy
chào. Tất cả đều cúi đầu khi quan tài do một chiếc xe kéo súng quân đội
kéo ngang qua. Chính phủ Ấn dành cho mẹ một vinh dự đặc biệt vì chính
chiếc xe kéo pháo cũ kỹ này đã kéo quan tài của Thánh Mahatma Ghandi ra
nghĩa trang 1948. Nhân loại tiếc thương mẹ, nhân dân Ấn Độ biết ơn mẹ
và chính những người cùng khổ ở Calcutta đang sắp hàng hai bên đường
cám ơn mẹ, nhưng ngoài tiếng máy xe kéo pháo nhịp đều, không có một sự
ồn ào nào khác. Trên xe, những nữ tu và người lính ngồi im lặng. Không
ai khóc lớn, không ai than van, không ai lăn lộn, không ai kể lể. Niềm
thương tiếc chân thành thánh thiện đã cô đọng thành ngọc bích và lắng
sâu xuống tận đáy lòng. Sự ra đi của Mẹ Teresa và nhiều bậc vĩ nhân
khác đơn giản như họ một lần đã ghé thăm hành tinh chúng ta.
Bên
kia những cuộc chia tay đầy ắp tình nhân loại như thế là những cái
chết của các lãnh tụ Cộng Sản đã diễn ra như những vở kịch được biên
tập tất cả đặc tính bi, hài, tò mò, chân thành, giả dối đến tận cùng.
Trước
tang lễ có một không hai của Kim Nhật Thành, tang lễ Stalin được xem
như một tang lễ đáng ghi nhớ nhất trong lịch sử tang lễ các lãnh tụ
Cộng Sản. Ngày 9 tháng 3 1953, hàng triệu người tập hợp tại Hồng trường
để chào vĩnh biệt “đại nguyên soái” Joseph Stalin của họ. Theo chi
tiết ghi lại trong trang web của báo Pravada, cũng như theo mô tả của
Brenda Haugen trong tác phẩm Joselp Stalin: Dictator of the Soviet
Union, khoảng 500 người chết chỉ vì chen lấn nhau để đến gần khán đài.
Tại Việt Nam vì xa xôi cách trở không tham dự được nhưng cũng “làng
trên xóm dưới xôn xao” khi nghe tin “Ông mất” và ít ra cũng có Tố Hữu
đã khóc đến mức “xé ruột, xé lòng” trong bài thơ Đời đời nhớ ông bất
hủ. Cảnh khóc than thê thảm tương tự đã diễn ra tại Thiên An Môn 1976,
Hà Nội 1969 với những cô công nhân mặt sưng húp vì mấy ngày đêm khóc
không còn nước mắt. Nếu những tên đô tể Nicolae Ceausescu không bị xử
bắn, Pol Pot không chết trong rừng, Erich Honecker không chết trong lưu
đày, tang lễ của họ hẳn cũng ngập đầy nước mắt.
Và
mới đây, các cơ quan truyền hình trên thế giới đồng loạt đưa tin về
cái chết đột ngột của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật và lồng trong các
bản tin là cảnh hàng trăm ngàn người dân Bắc Hàn, từ cụ già đến em bé,
từ thiếu nữ đến thanh niên đều khóc thê thảm, khó lăn lộn, khóc đến
ngất xỉu. Theo tin chính thức của Bắc Hàn, đã có năm triệu người, tức
hơn hai mươi phần trăm dân số, bằng nhiều cách bày tỏ lòng thương tiếc
dành cho lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật. Các cơ quan truyền thông quốc
tế dành nhiều thời gian để tìm hiểu về hiện tượng khóc rất lạ đời này.
Son Jeong Hun, trước đây vượt thoát từ Bắc Hàn cho biết “Nếu bạn không
khóc một cách công khai, bạn bị xem là có thái độ sỉ nhục lãnh tụ và
có thể bị kết án chống lại nhà nước”. Tuy nhiên, trong lúc rất nhiều
người phải khóc, khóc không ra nước mắt, cũng có rất nhiều người đã
khóc một cách chân thành chỉ vì các vi trùng tôn thờ cá nhân ăn sâu vào
nhận thức và họ đã bị hoàn toàn tẩy não.
Tại
Bắc Hàn, mỗi gia đình đều có một bức ảnh của Kim Nhật Thành và Kim
Chính Nhật. Ban kiểm tra hình lãnh tụ theo định kỳ đến khám xét từng
nhà. Gia chủ sẽ bị phạt nếu hình của cha con họ Kim không được lau
chùi đúng tiêu chuẩn. Bịnh tôn thờ lãnh tụ tại Bắc Hàn trầm trọng đến
nỗi người dân có thể chết chỉ để bảo vệ bức ảnh của “cha già dân tộc”.
Theo hồ sơ tội ác của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật do giáo sư Grace
M. Kang chuẩn bị để truy tố trước tòa án quốc tế, ngày 4 tháng Sáu
1997 một chiếc ghe đánh cá bị sóng đánh chìm, thủy thủ trên ghe đã buộc
chân dung của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật vào phao cấp cứu để hai
bức ảnh khỏi chìm trong lúc các thủy thủy đã chết đuối. Khi hai bức
ảnh được hải quân Bắc Hàn tìm được, những thủy thủ bị chết đuối được
tặng danh hiệu Anh Hùng Cộng Hòa. Ngoài ra, tạp chí Times cũng đã tường
thuật một trường hợp hỏa hoạn ở Bắc Hàn, chủ nhà đã lo cứu bức ảnh
trước khi cứu con mình. Tháng 4/2003, theo tạp chí Economist, một chiếc
xe lửa ở Bắc Hàn không may chạy trật đường rầy và đụng vào một toà nhà
lớn, cả xe lửa lẫn toà nhà đều bốc cháy, hàng trăm khách trong xe,
người trong toà nhà vừa chết vừa bị thương. Thế nhưng khi những người
dân Bắc Hàn tới cứu, họ đã cố tìm cách dập tắt ngọn lửa đang đốt cháy
tấm chân dung lớn của Kim Chính Nhật treo trên toà nhà trước khi cứu
chữa những người bị thương đang sắp chết cháy trong nhà.
Người
dân Bắc Hàn không có cùng một ý niệm về không gian và thời gian như
phần còn lại của nhân loại. Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi thay sau
khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD và thay vào đó bằng lịch Juche,
lấy năm sinh của ông ta làm chuẩn. Ví dụ, năm 2000 là năm cuối cùng của
thiên niên kỷ đối với phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ mới là
năm Juche 99. Trong một bài bình luận của Rodong Sinmun, cơ quan thông
tin chính thức của Đảng Công nhân Triều Tiên phát hành ngày 31 tháng 8
năm 1997, viết về Kim Chính Nhật: “Nhân
dân Triều Tiên tuyệt đối tôn kính, tin tưởng và theo chân Tướng Quân
như Thượng Đế. Tư tưởng quý giá này căn cứ vào sự kiện rằng họ đã cảm
nhận một cách sâu sắc sự vĩ đại của Tướng Quân từ đáy lòng họ. Tướng
Quân là thầy giáo vĩ đại dạy nhân dân Triều Tiên ý nghĩa thật sự của
cuộc sống, là người cha đã ban cho họ đức tính liêm khiết chính trị quý
giá và là một ân nhân có trái tim nồng ấm dịu dàng, đã mang đến cho
nhân dân Triều Tiên niềm hạnh phúc trọn vẹn… Tướng Quân là cây trụ tinh
thần và là vầng thái dương vĩnh cửu của nhân dân Triều Tiên“.
Một
số nhà phân tích tâm lý cho rằng, vấn đề không phải người dân Bắc Hàn
khóc thật hay khóc giả nhưng chỉ việc khóc một cách tự nhiên và công
khai trước ống kính truyền hình đã cho thấy khả năng của chế độ kiểm
soát hành vi của người dân chặt chẽ đến chừng nào. Bộ máy tuyên truyền
của đảng Cộng Sản Bắc Hàn đã biến toàn xã hội thành một đại gia đình
trong đó Kim Nhật Thành là ông nội, Kim Chính Nhật là cha già, và Kim
Jong Un đang là đích tôn gia trưởng. Các bức hình trẻ em vui mừng ngồi
trên đùi Kim Nhật Thành hay những cặp vợ chồng mới cưới thay vì đến nhà
thờ hay chùa, đã đến trước tượng Kim Nhật Thành làm lễ ra mắt tổ tiên
cho thấy mối quan hệ giữa quần chúng và lãnh tụ đã vượt qua mối quan hệ
chính trị bình thường để trở thành mối giây thiêng liêng bền bỉ rất
thích hợp với văn hóa Á Đông.
Trong
lúc, theo Katharina Zellweger, giám đốc cơ quan thiện nguyện Thụy Sĩ
có văn phòng tại Nhưỡng Quang, mỗi người dân Bắc Hàn chỉ được cấp tiêu
chuẩn thực phẩm 150 gram mỗi ngày và rất đông người quá đói phải ra
đồng đào rễ, cắt cỏ và hái lá để ăn, gia đình Kim Chính Nhật sống như
một đế vương. Theo hồi ký ” Tôi từng là đầu bếp của Kim Chính Nhật” (I
Was Kim Jong Il’s Cook) của đầu bếp Nhật Bản từng phục vụ Kim Chính
Nhật và ký dưới tên Kenji Fujimoto, món ăn khoái khẩu của họ Kim là
sushi với tôm tươi. Các thức ăn phục vụ Kim được chọn lựa theo đặc sản
của mỗi nước như thịt heo Đan Mạch, đồ biển Nhật, bia Tiệp Khắc, chuối
Thái Lan, đu đủ Mã Lai… Kim Chính Nhật là kẻ nghiện rượu vang. Hầm rượu
của y có khoảng 10,000 chai. Theo hồ sơ của BBC trong thượng đỉnh năm
2000 tiếp cựu Tổng thống Nam Hàn Kim Đại Trọng, Kim Chính Nhật đã uống
10 ly rượu vang. Phòng phim của Kim Chính Nhật chứa khoảng 20,000 phim,
trong đó Rambo và Jame Bond là những bộ phim y thích nhất. Gia đình họ
Kim không thiếu một món giải trí nào từ sân bóng rổ đúng NBA tiêu
chuẩn, xe gắn máy trượt tuyết, giàn karaoke… Cũng theo lời kể của đầu
bếp Kenji Fujimoto, Kim Chính Nhật nuôi chó đầy đủ hơn nuôi dân. Trong
nạn đói, những nhân viên coi chó cho y đã phải ăn trộm thức ăn của chó
để ăn. Bị bắt được, toán trưởng bị đày hai năm trong trại tập trung và
các đội viên mỗi người bị đày một năm.
Nhân
dân Bắc Hàn không biết đời sống xa hoa và tánh tình bịnh hoạn của Kim
Chính Nhật. Với đa số người dân Bắc Hàn, Kim Chính Nhật từ khi còn sống
cho đến lúc qua đời là thần thoại diệu kỳ. Cơ quan truyền hình chính
thức của Bắc Hàn KCNA cho biết trước giờ họ Kim chết, đỉnh núi thánh
Bạch Đầu Sơn (Paektu) được bao phủ bằng một ánh sáng màu đỏ rực đầy
huyền bí. Cũng theo KCNA, không chỉ nhân dân Triều Tiên hay loài người
mà cả trời đất cũng tiếc thương trước cái chết của lãnh tụ kính yêu.
Nói theo kiểu Tố Hữu của Việt Nam là “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn
mưa”. Mobutu Sese Seko trước đây được là người có những danh xưng rất
độc đáo như “Nhà cứu rỗi dân tộc”, “Cha già dân tộc” v.v… nhưng so với
cha con họ Kim, Mobutu chỉ đáng là học trò. Tại Bắc Hàn, Kim Chính Nhật
ngoài các danh dự được gọi hàng ngày như “Lãnh tụ kính yêu”, “Đồng chí
vĩ đại”, “Tư lịnh tối cao” v.v… còn được gọi trong tiểu sử chính thức
là “Con trời”, “Ngôi sao sáng của đỉnh Bạch Đầu Sơn”.
Với các bằng chứng tẩy não tinh vi như vậy, việc dân Bắc Hàn khóc thật cũng chẳng phải là chuyện lạ.
Nhân
dịp bàn chuyện khóc lóc của người dân Bắc Hàn, thử phân tích một số lý
do tại sao chế độ Cộng Sản có thể tồn tại lâu dài hơn nhiều chế độ độc
tài khác trong lịch sử nhân loại thời hiện đại. Một số lý do trực
tiếp liên hệ đến Bắc Hàn trong khi một số lý do khác là lý do tổng quát
chung cho cả phong trào Cộng Sản.
Lý
do thứ nhất là bộ máy kiểm soát chính trị và xã hội. Đảng Cộng Sản
kiểm soát chặt chẽ toàn bộ cơ cấu xã hội một cách tinh vi, từ các đơn
vị nhỏ đến các ban ngành lớn. Cơ quan tuyên truyền trung ương đảng kiểm
soát từng chi tiết các sinh hoạt tri thức, thông tin, truyền thanh,
truyền hình, báo chí. Hệ thống kiểm duyệt trong chế độ Cộng Sản không
chỉ ở trung ương mà theo nhiều tầng lớp. Ngay cả khi tác giả viết bài
cũng đã thực thi tự kiểm duyệt vì họ biết những gì nên viết và những gì
không được viết trước khi nạp bản thảo cho cơ quan kiểm duyệt nhà
nước. Bức tường bưng bít thông tin dày nhiều lớp như thế đã che đậy tội
ác ngập trời của các lãnh tụ Cộng Sản. Giáo sư Brian Reynolds Myers
giảng dạy môn nghiên cứu quốc tế tại đại học Dongseo University in
Busan, South Korea cho biết ngoài một rất ít lén lút mua được vài bộ
phim Nam Hàn, máy truyền hình Trung Quốc, tuyệt đại đa số sản phẩm văn
hóa nghệ thuật là sản phẩm của tuyên truyền. Các tác phẩm phim ảnh được
duyệt nhiều lần để bảo đảm khi đến người dân không có một tình tiết
nào đi ngược với đường lối của Đảng.
Lý
do thứ hai vì họ chỉ giết chính nhân dân nước họ. Không giống chế độ
độc tài Đức Quốc Xã tàn sát dân Do Thái, lãnh đạo Cộng sản các nước
thường giết chính đồng bào cùng máu mủ, cùng tổ tiên, cùng đất nước với
họ. Ngay từ sau 1975, dư luận thế giới đã biết đến tội ác của chế độ
Pol Pot. Tạp chí Time còn đăng cả bức hình một tội nhân đang bị đánh
vào đầu bằng cuốc. Tuy nhiên, ngoài Việt Nam tấn công chế độ bằng một
lý do riêng vào tháng Giêng 1978, không một quốc gia nào kể Liên Hiệp
Quốc có hành động cụ thể để ngăn chặn tội ác của Pol Pot. Khi một chế
độ có toàn quyền sinh sát với nhân dân, họ cũng có điều kiện để tồn tại
lâu dài. Giống như Pol Pot, cha con Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật
đã can tội diệt chủng và chống lại nhân loại. Theo ước lượng của báo
chí ít nhất một triệu người đã chết trong các trại tù Bắc Hàn từ ngày
đình chiến đến nay. Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết khoảng 150 ngàn đến 200
ngàn người vẫn còn đang bị ở tù. Ngoài ra, khoảng 2.5 triệu người dân
Bắc Hàn đã chết trong các nạn đói từ 1990.
Lý
do thứ ba, cũng khác với các lãnh tụ Đức Quốc Xã thường bị truy tố
ngay sau chiến tranh, tội ác của các lãnh tụ Cộng sản còn được che dấu
một cách tinh vi, có hệ thống dưới các nhãn hiệu vô cùng tốt đẹp như
“độc lập, tự do, hạnh phúc”. Vai trò của Kim Nhật Thành trong chiến
tranh chống Phát Xít Nhật, Hồ Chí Minh trong chiến tranh chống Pháp,
Fidel Castro trong chiến tranh chống độc tài Batista, Stalin trong
chiến tranh chống Đức, Mao Trạch Đông trong chiến tranh chống Nhật được
đề cao đến độ nếu không có họ có thể toàn dân tộc đã bị xóa tên khỏi
lịch sử loài người. Hình ảnh Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành
lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hình ảnh Hồ Chí Minh đọc “tuyên
ngôn độc lập” đã được đánh bóng sáng đến mức mọi tội tác tày trời khác
đã trở thành trộm vặt. Chỉ trong vòng vài năm sau ngày tuyên bố “Nhân
dân Trung Hoa đã đứng lên” 30 triệu “nhân dân” đã bị giết trong hàng
loạt các chiến dịch chống hữu khuynh, trăm hoa đua nở, bước tiến nhảy
vọt, công xã nhân dân, cách mạng văn hóa. Tội ác của Mao chống lại nhân
dân Trung Hoa nói riêng và loài người nói chung vượt qua con số do
Hitler, Stalin và Leopold II cộng lại. Tương tự tại Hà Nội chỉ vài năm
sau ngày “tôi nói đồng bào nghe rõ không”, nhiều vạn “đồng bào” đã
không còn cơ hội nghe rõ nữa vì họ đã chết một cách oan ức trong các
cuộc đấu tố vô cùng tàn ác.
Lý
do thứ tư, ngoại trừ trường hợp Khrushchev, ít khi nào một lãnh đạo
Cộng sản đứng lên thẳng thắn vạch trần tội lỗi của lớp lãnh đạo trước,
bởi vì làm như thế là tạo chỗ hở cho kẻ thù chung tấn công vào chế độ.
Trường hợp Đặng Tiểu Bình đối với Mao Trạch Đông là một ví dụ điển
hình. Đặng Tiểu Bình là một trong những người chịu đựng sự hành hạ và
mất mát lớn lao về nhân mạng trong thời Cách mạng văn hóa. Bản thân
Đặng Tiểu Bình bị chính Mao thanh trừng nhiều lần và con trai của Đặng
Tiểu Bình đã chết một cách thê thảm khi bị ném từ cửa sổ xuống đường.
Chuyện đời tư của Mao, từ bản chất độc tài, nghi kỵ cho đến cá tính
trăng hoa dâm dật, Đặng Tiểu Bình biết hơn ai hết, nhưng khi lên nắm
quyền hành, họ Đặng vẫn tiếp tục sơn son thiếp vàng lên một hình tượng
mà cá nhân y vô cùng căm hận. Trên đồng nhân dân tệ từ đơn vị một đồng
cho đến một trăm đồng vẫn in khuôn mặt mỉm cười của kẻ từng điều khiển
bộ máy giết người khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Bởi vì, là
một trong số rất ít lãnh đạo Cộng sản lão thành còn sót lại từ thời Vạn
lý trường chinh và cũng quá thuộc sử Tàu, Đặng Tiểu Bình biết, giống
như các triều đại phong kiến Trung Hoa, đặc tính kế thừa của một quyền
lực trung tâm là một yếu tố sinh tử không thể phủ định của chế độ Cộng
Sản. Điểm trung tâm vỡ toàn bộ hệ thống cai trị sẽ vỡ theo.
Lý
do thứ năm, các lãnh đạo Cộng Sản thường tận dụng vị trí của kẻ thù
đã chết. Những lãnh tụ Cộng Sản thường tận diệt kẻ thù còn sống nhưng
ca tụng kẻ thù đã chết. Stalin ca tụng Lenin, Fidel Castro ca tụng
Ernesto “Che” Guevara, Đặng Tiểu Bình ca tụng Mao Trạch Đông. Lấy
trường hợp Che làm ví dụ. Nếu Ernesto “Che” Guevara không làm cách
mạng phiêu lưu Nam Mỹ mà tiếp tục ở lại Cu Ba, thất khó tưởng tượng ông
ta có thể sống sót dưới bàn tay của Fidel Castro. Một rừng không có
hai cọp, một nước không có hai vua, đừng nói chi là quan hệ giữa Che và
Fidel Castro rạn nứt trước khi Che tạm biệt vợ con lần cuối và lên
đường đi Bolivia cuối năm 1966. Che chủ trương kỹ nghệ hóa đất nước,
Fidel Castro chủ trương củng cố quyền lực trung ương. Sự khác biệt của
Che và Fidel Castro khá giống trường hợp của Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch
Đông. Nhưng hôm nay, nếu ai đến Havana, sẽ gặp hình ảnh Che trên khắp
ngả đường. Xác chết không nghe được lời ca tụng, không nếm được mỹ vị
cao lương, không sống trong các biệt thự có kẻ hầu người hạ, chỉ có đám
độc tài đang thống trị đất nước mới thật sự là những kẻ hưởng thụ
quyền lực.
Lý
do thứ sáu, che đậy tội ác của nhau. Thật vậy, nếu không chính từ cửa
miệng Khrushchev nói ra trong diễn văn dài 4 giờ đồng hồ giữa khuya
ngày 2 tháng 5/1956 trước đại hội lần thứ 20 đảng Cộng sản Liên Xô, có
thể sau khi chế độ Xô Viết sụp đổ, nhân loại mới biết Stalin là “một
người luôn ngờ vực một cách bịnh hoạn… Sự hoài nghi bịnh hoạn đó làm
cho Stalin không tin tưởng ngay cả những lãnh đạo cao cấp đã từng làm
việc với y nhiều năm. Nhìn đâu Stalin cũng thấy những “kẻ thù”, “những
người hai lòng dạ”, “gián điệp””. Theo Khrushchev, Stalin đã dùng “tất
cả các phương tiện lừa dối, xây dựng vinh quang cho chính bản thân y”.
Khrushchev kể, năm 1948, tác phẩm “Tiểu Sử Ngắn” của Stalin được trình
lên cho y coi lại trước khi in “Stalin không có một sự tự trọng tối
thiểu nào khi tự sửa đổi bản thảo để gọi chính mình là lãnh tụ vĩ đại,
nhà chiến lược siêu phàm của mọi thời đại và sửa bất cứ đoạn nào ca
ngợi y không đủ”. Ở Việt Nam cũng có chuyện lãnh tụ tối cao tự ca ngợi
đời mình như thế.
Thật
vậy, nếu không phải do chính cửa miệng Nuon Chea, Anh Hai (Brother
Number Two) của Khờ Me Đỏ, sau Anh Cả Pol Pot thốt ra, thế giới không
biết lý do hàng triệu người dân Cambode bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù
của nhân dân”. Tên đao thủ phủ Nuon Chea khi trả lời không hiện ra trên
khuôn mặt một dấu hiệu xót thương, hối tiếc, dường như ông ta vừa giết
một con gà, con vịt chứ không phải 1,7 triệu người trong một đất nước
chỉ có 7 triệu dân. Chỉ trong thời gian 4 năm từ 1975 đến 1979, 21%,
dân Cambode đã bị giết bằng các hình thức vô cùng thảm khốc, kể cả cắt
cổ, chặt đầu, gây thương thích và để chảy máu cho đến chết. Những chi
tiết trong hồ sơ tòa án do Liên Hiệp Quốc bảo trợ về nhà tù Tuol Sleng
hay được gọi theo mã số S-21sẽ mãi mãi ám ảnh trong lịch sử Cambode.
Phần lớn tù nhân tại S-21 bị giết sau thời gian tra tấn bằng các thủ
đoạn tàn độc như xẻ thịt, đổ rượu vào vết thương. Trong số 17 ngàn tù
nhân tại Tuol Sleng chỉ có 7 người sống sót. Trong phiên tòa hôm 8
tháng 12/2011, thậm chí Nuon Chea còn phản đối dư luận dám nói xấu
đảng Cộng sản: “Khờ Me Đỏ không phải là những người xấu đâu nhé”.
Nếu
không phải do chính ngòi bút của Hoàng Tùng, nguyên bí thư Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam và là một trong số rất ít người gần gũi với Hồ
Chí Minh nhiều năm viết ra có lẽ còn rất lâu người dân Việt Nam mới
biết Hồ Chí Minh không những biết trước mà còn là người bỏ lá phiếu
quyết định xử tử bà Nguyễn Thị Năm: “Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba
đề nghị mãi, Bác nói :” Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là
không phải”. ”Nếu trong buổi họp đó, với tư cách Chủ tịch Ban chấp hành
Trung ương đảng và người có quyền lực tối thượng bao trùm lên cả đám
đệ tử “đa số” kia trong bộ chính trị, Hồ Chí Minh quyết định khác đi,
chẳng những số phận của người phụ nữ yêu nước, cống hiến con cái của
mình, tài sản của mình cho cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp đầy
gian khổ của dân tộc không phải chết một cách oan ức mà còn cứu mạng
nhiều ngàn người dân vô tội khác trong những lần đấu tố sau đó. Tòa án
lịch sử dân tộc Việt Nam hôm nay và ngàn đời sau phán xét ông Hồ không
phải dựa vào việc ông ta “cho là phải” hay “cho là không phải” khi giết
bà Nguyễn Thị Năm nhưng ở chỗ ông ta đã quyết định bỏ phiếu “theo đa
số”. Lá phiếu của ông Hồ chính là viên đạn bắn vào đầu bà Nguyễn Thị
Năm.
Chủ
nghĩa Cộng Sản đã tàn rụi ở châu Âu nhưng trong năm nước còn sót lại
sự khổ đau, chịu đựng vẫn còn đến hôm nay và không biết đến bao giờ mới
hết. Chiến tranh lạnh đã tàn. Các nước tư bản tự do vì lý do kinh tế
đã không còn giương cao ngọn cờ dân chủ như trước nữa. Họ mặc nhiên
chấp nhận chế độ Cộng Sản như là một thực tế của mỗi quốc gia hơn là
một phong trào quốc tế. Nhân dân Bắc Hàn, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Trung
Hoa là những dân tộc chịu đựng trong cô đơn. Người dân Bắc Hàn khóc vì
sợ hãi, giả dối, bắt buộc hay bị tẩy não, đều đáng thương, đáng được
cảm thông hơn là đáng trách hay đáng cười khinh rẻ. Những giọt nước mắt
đó trước lương tâm nhân loại chính là những lời tố cáo hùng hồn về một
chế đô phi nhân đang tồn tại ở Á Châu.
© 2011 Trần Trung Đạo & Đàn Chim Việt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét